- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Q được ly hôn anh Nguyễn Bá B.
- Căn cứ chính? Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 164/2022/HNGĐ-ST Ngày: 16 - 8 - 2022 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Hồng Vân
- Các Hội thẩm nhân dân
Bà Bùi Thị Hoa
Bà Hồ Thị Thanh Thủy
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan, Kiểm sát viên
Ngày 16 tháng 8 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 140/2022/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2022 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định hoãn phiên tòa số 68/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Khối Thịnh M, phường Quỳnh Th, thị xã Hoàng M, tỉnh Nghệ An. Có đơn xin xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Bá B, sinh năm 1988.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Khối Thịnh M, phường Quỳnh Th, thị xã Hoàng M, tỉnh Nghệ An. Hiện đang cư trú tại Slovakia. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, trình bày tại bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị Q trình bày: Vào tháng 6 năm 2020, vì có nhiều mâu thuẫn nên chị và anh B đã thuận tình ly hôn theo Quyết định số 66/2020/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2020, của Tòa án nhân dân thị xã Hoàng M, tỉnh Nghệ An. Sau khi ly hôn vợ chồng được hai bên gia đình hòa giải, khuyên bàn nên chị và anh B quay lại chung sống với nhau và kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 20 tháng 11 năm 2020 tại Ủy ban nhân dân Ủy ban nhân dân phường Quỳnh Th, thị xã Hoàng M, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì tháng 4 năm 2021, anh B đi xuất khẩu lao động tại Solovakia. Thời gian đầu anh B vẫn thường xuyên liên lạc hỏi thăm vợ con bình thường. Từ tháng 7/2021 anh B không còn quan tâm, liên lạc gì với vợ con. Từ đó đến nay vợ chồng không quan tâm lẫn nhau về vật chất và tinh thần. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên Chị Qlàm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Bá B.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Q và anh Nguyễn Bá B có ba con chung là cháu Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 27/10/2012 Nguyễn Bá Triệu Nh, sinh ngày 18/5/2017, Nguyễn Như Quỳnh M, sinh ngày 26/01/2020, hiện nay các con chung đang sống cùng với mẹ. Ly hôn, Chị Qcó nguyện vọng Tòa án giao các con chung cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Qchưa yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn là anh Nguyễn Bá B: Quá trình từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, bị đơn là anh Nguyễn Bá B vắng mặt. Chị Nguyễn Thị Q không cung cấp được địa chỉ cụ thể hiện nay anh B cư trú, chị chỉ biết hiện nay anh B đang sinh sống tại Slovakia. Tòa án đã hai lần gửi văn bản yêu cầu chị Nguyễn Thị T (là chị ruột của anh B), trú tại: SN 7B, ngõ 2A, đường Bùi Huy Bích, xóm Phúc Lộc, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cũng như yêu cầu chị thông báo với anh B để gửi lời khai về cho Tòa án. Tuy nhiên, tại biên bản lấy lời khai chị Tú cho biết thời gian ở nước ngoài, anh B thường xuyên liên lạc về với chị qua điện thoại còn địa chỉ cụ thể của anh B thì anh B không cung cấp nên chị không biết. Chị đã thông báo cho anh B biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang thụ lý, giải quyết vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm giữa Chị Qvà anh B do lý do công việc nên anh B không gửi bản tự khai về, thông qua chị anh B đồng ý ly hôn và giao các con chung cho Chị Qchăm sóc, nuôi dưỡng.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị Q ly hôn với anh Nguyễn Bá B. Về con chung: Đề nghị giao con chung Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 27/10/2012 Nguyễn Bá Triệu Nh, sinh ngày 18/5/2017, Nguyễn Như Quỳnh M, sinh ngày 26/01/2020 cho chị Nguyễn Thị Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Qkhông yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Qkhông yêu cầu nên không xem xét; giành quyền khởi kiện về chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị Q hiện cư trú tại Việt Nam làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Bá B hiện cư trú ở nước ngoài; trước xuất cảnh, anh B có địa chỉ cư trú tại Khối Thịnh M, phường Quỳnh Th, thị xã Hoàng M, tỉnh Nghệ An nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.
Về sự vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn là anh Nguyễn Bá B vắng mặt, Tòa án đã gửi công văn yêu cầu chị Nguyễn Thị T (là chị gái ruộtcủa anh B) cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn và thông báo cho anh B biết để gửi lời khai về cho Tòa án. Tuy nhiên, chị không cung cấp được địa chỉ hiện nay của anh B; đến nay Tòa án vẫn chưa nhận được văn bản trình bày ý kiến của anh B liên quan đến yêu cầu khởi kiện nên được coi như trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung, Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng tại địa chỉ nơi trú cuối cùng của anh B trước khi xuất cảnh theo đúng quy định pháp luật. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Q có đơn xin xử vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Q, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Q và anh Nguyễn Bá B kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn lại, Chị Qvà anh B sống với nhau được một thời gian thì tháng 5/2021 anh B đi xuất khẩu lao động tại Slovakia. Đến tháng 7/2021 hai vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, hai bên không tìm được tiếng nói chung. Từ đó đến nay Chị Qvà anh B không liên lạc với nhau. Xét thấy, Chị Qvà anh B không còn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Quỳnh, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Nguyễn Thị Q được ly hôn anh Nguyễn Bá B.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Q và anh Nguyễn Bá B có ba con chung là Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 27/10/2012 Nguyễn Bá Triệu Nh, sinh ngày 18/5/2017, Nguyễn Như Quỳnh M, sinh ngày 26/01/2020, hiện đang ở với chị Quỳnh. Ly hôn, Chị Qcó nguyện vọng giao con chung cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và Chị Qkhông yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con. Nguyện vọng của Chị Qlà chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật và điều kiện thực tế, vì hiện nay, anh Nguyễn Bá B đang ở nước ngoài và cố tình dấu địa chỉ. Do đó, căn cứ vào các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị Quỳnh. Giao cho Chị Qđược quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 27/10/2012 Nguyễn Bá Triệu Nh, sinh ngày 18/5/2017, Nguyễn Như Quỳnh M, sinh ngày 26/01/2020 cho đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con, Chị Qkhông yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Dành quyền khởi kiện cho Chị Qkhi có yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Q không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Dành quyền khởi kiện về tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Q phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 122; Điều 123; Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình 2014; Điều 37; Điều 40; khoản 4 Điều 147; khoản 1, khoản 4 Điều 207; Điều 228; khoản 1 Điều 273; Điều 469; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Q.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Q được ly hôn anh Nguyễn Bá B.
- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 27/10/2012 Nguyễn Bá Triệu Nh, sinh ngày 18/5/2017, Nguyễn Như Quỳnh M, sinh ngày 26/01/2020 cho chị Nguyễn Thị Q được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Qchưa yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Bá B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Q không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.
2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Q phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0011912 ngày 25/5/2022 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
3. Chị Nguyễn Thị Q có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Bá B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
4. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Cục THADS tỉnh Nghệ An; - UBND phường Quỳnh Th; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Thái Thị Hồng Vân |