vanban.org

Bản án 164/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5, Điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-

UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, [1] Về hôn nhân: Bà L T K Ê được ly hôn với ông T V V L.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa bà Lê Thị Kim Êm với ông Trần Văn Vũ Linh"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5, Điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 164/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 29-11-2022
V/v Ly hôn giữa bà Ê và
ông L.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Đông Hòa

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phan Văn Dân

Bà Mai Thị Thu Hà

-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương là Thư ký Tòa án nhân

dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên

tòa: Bà Cao Thị Thu Hồng Em – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành

xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 307/2022/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng

6 năm 2022 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số

247/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2022 và Quyết định Hoãn

phiên tòa số 202/2022/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 11 năm 2022 giữa các

đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà L T K Ê, sinh ngày 02-9-1999

CMND số xxxxxxxxx do công an tỉnh An Giang cấp ngày 26-6-2017

Nơi cư trú: Số nhà 215, Tổ 5, ấp M A, xã N M, huyện C M, tỉnh An Giang.

Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 09-11-2022

2.Bị đơn: Ông T V V L, sinh ngày 26-3-1998

CMND số xxxxxxxxx do công an tỉnh An Giang cấp ngày 07-6-2017

ĐKHKTT: Ấp Đ P 1, xã V T, huyện C T, tỉnh An Giang.

Tạm trú: Số nhà 84, Tổ 5, ấp T T, xã V T, huyện C T, tỉnh An Giang.

Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện xin ly hôn, Bản tự khai ngày 23-5-2022, Đơn xin xét xử

vắng mặt ngày 09-11-2022, nguyên đơn bà L T K Ê trình bày:

+Về hôn nhân: Bà và ông T V V L kết hôn năm 2017, hôn nhân do quen

biết, có tổ chức đám cưới. Có đăng ký kết hôn tại UBND xã N M, huyện C M, tỉnh An Giang số 27 ngày 12-02-2019. Sau khi cưới vợ chồng lên tỉnh Bình Dương làm công nhân. Đến tháng 4/2022, thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp dẫn đến thường hay cự cãi. Vợ chồng sống ly thân. Nay bà nhận thấy không còn tình cảm với ông L, mục đích hôn nhân không đạt được, nên xin ly hôn với ông T V V L.

+Về con chung: Có 01 con chung tên T T D, sinh ngày 15-7-2017. Hiện bà

đang nuôi con. Nếu ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi con.

+Về cấp dưỡng nuôi con: Bà yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con theo quy

định của pháp luật do Hội đồng xét xử quyết định.

+Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và 2

lần thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông T V V L, nhưng ông L vẫn không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp chứng cứ, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Ngày 13-10-2022, Tòa án đến nhà ông L để ghi lời khai, nhưng ông L vắng mặt tại nhà. Do đó, Tòa án không nhận được ý kiến của ông L.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang phát

biểu quan điểm như sau:

1/Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét

xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng được pháp luật quy định tại Bộ Luật Tố tụng Dân sự.

2/Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu

cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về con chung tiếp tục ổn định cho bà Ê nuôi con. Buộc ông L cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với nguyên đơn bà L T K Ê, bị đơn ông T V V

L, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa; nguyên đơn bà Ê có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông L vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo thủ tục chung đối với nguyên đơn bà Ê và bị đơn ông L.

[2] Về hôn nhân: Bà L T K Ê và ông T V V L kết hôn năm 2017, hôn nhân

do quen biết, có tổ chức đám cưới. Có đăng ký kết hôn tại UBND xã N M,

huyện C M, tỉnh An Giang số 27 ngày 12-02-2019 theo quy định tại Điều 9 Luật

Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên hôn nhân này là hợp pháp và được pháp

luật bảo vệ. Bà Ê có yêu cầu ly hôn. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tổ chức hòa

giải để hàn gắn lại tình cảm giữa bà Ê và ông L, nhưng ông L nhiều lần vắng

mặt nên không hòa giải được.

Xét thấy: Từ tháng 4/2022 giữa bà Ê và ông L phát sinh nhiều mâu thuẫn

do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp dẫn đến thường hay cự cãi. Từ

tháng 4/2022 bà Ê và ông L sống ly thân cho đến nay. Từ khi sống ly thân cho

đến nay cả bà Ê và ông L đều không có thiện chí hàn gắn lại tình cảm vợ chồng.

Điều này cho thấy mâu thuẫn giữa bà Ê và ông L là trầm trọng, đời sống chung

không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Đối chiếu với quy định

của pháp luật tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Hội

đồng xét xử xét thấy nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là bà Ê được ly hôn

với ông L là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về con chung: Bà Ê và ông L có 01 con chung. Hiện bà Ê đang nuôi

con. Khi ly hôn bà Ê yêu cầu được tiếp tục nuôi con. Ông L không có ý kiến.

Xét thấy: Cháu D chỉ hơn 5 tuổi, hiện bà Ê nuôi con chu đáo. Đối chiếu với

quy định của pháp luật tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm

2014. Vì vậy, để không làm thay đổi cuộc sống cũng như sự phát triển tâm sinh

lý của cháu; Hội đồng xét xử xét thấy nên để cho bà Ê được tiếp tục nuôi dưỡng

con chung là phù hợp.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Ê yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con theo

quy định của pháp luật. Ông L không có ý kiến. Đối chiếu với quy định của

pháp luật tại Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Hội đồng xét xử

xem xét buộc ông L cấp dưỡng nuôi con bằng ½ mức lương cơ sở trên tháng,

theo từng thời điểm lương. Thời điểm cấp dưỡng lần đầu vào ngày 29-11-2022

cho đến khi cháu T T D, sinh ngày 15-7-2017 tròn 18 tuổi; bà Ê đại diện nhận.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Ê trình bày không có, không yêu cầu

Tòa án giải quyết. Ông L không có ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không xem

xét.

[6] Về án phí: Đối chiếu với quy định của pháp luật tại khoản 4 Điều 147

của Bộ Luật Tố tụng Dân sự; Điểm a khoản 5, Điểm a khoản 6 Điều 27 của

Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy Ban

Thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,

quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,

Nguyên đơn bà Ê phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm,

được khấu trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm

ứng án phí, lệ phí tòa án số 0002566 ngày 17-6-2022 của Chi Cục Thi hành án

Dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

Bị đơn ông L phải chịu 300.000 án phí cấp dưỡng nuôi con.

[7] Về quyền kháng cáo: Đối chiếu với quy định của pháp luật tại Điều 271

và Điều 273 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự. Nguyên đơn bà Ê, bị đơn ông L vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39;

khoản 4 Điều 147; Các Điều 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự;

Các Điều 9, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điểm a khoản 5, Điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-

UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,

Xử:

[1] Về hôn nhân: Bà L T K Ê được ly hôn với ông T V V L.

Giấy chứng nhận kết hôn số 27 ngày 12-02-2019 của UBND xã N M,

huyện C M, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

[2] Về con chung: Bà L T K Ê được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên T T

D, sinh ngày 15-7-2017.

Bà L T K Ê và các thành viên trong gia đình bà Ê không được cản trở ông T

V V L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định tại khoản 2 Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Ông T V V L lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu

đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà Ê có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của ông L theo quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc ông T V V L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi

con bằng ½ mức lương cơ sở trên tháng, theo từng thời điểm lương. Thời điểm cấp dưỡng lần đầu vào ngày 29-11-2022 cho đến khi cháu T T D, sinh ngày 15-7-2017 tròn 18 tuổi; bà L T K Ê đại diện nhận.

[4] Về án phí:

Nguyên đơn bà L T K Ê phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí

hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0002566 ngày 17-6-2022 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

Bị đơn ông T V V L phải chịu (ba trăm ngàn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi

con.

[5] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà L T K Ê, bị đơn ông T V V L vắng

mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận

được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân

sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi

hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Các điều 6, 7 và 9 Luật

thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều

30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ