- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| T A ÁN NH N D N HU N B NH CHÁNH TH NH PH H CH M NH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 164/2022/HNGĐ-ST Ngày: 16-3-2022 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG H A XÃ HỘ CHỦ NGHĨA V T NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HU N B NH CHÁNH, TH NH PH H CH M NH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Tuyền
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Nga
2. Bà Nguyễn Thị Nguyên
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phan Mỹ Dung – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 3 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 277/2021/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2021 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thái L, sinh năm: 1994
Địa chỉ: đường A, phường B, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Ông Phan Quốc T, sinh năm: 1992
Địa chỉ: khu phố X, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Bà Trần Thái L và ông Phan Quốc T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
NỘ DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 04 tháng 3 năm 2021, các bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thái L trình bày:
Bà và ông Phan Quốc T bắt đầu chung sống với nhau vào năm 2015, có tổ chức đám cưới do hai bên tự tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Tân Túc, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 26/01/2015. Thời gian đầu vợ chồng bà chung sống hạnh phúc, thỉnh thoảng có xảy ra mâu thuẫn. Đến tháng 5 năm 2017 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông T thường xuyên nhậu nhẹt say xỉn về gây chuyện với bà. Bà và ông T đã sống ly thân từ tháng 7 năm 2017 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phan Quốc T.
Về con chung: Có 01 con chung là trẻ Phan Nhất M, sinh ngày 20/3/2014. Hiện trẻ M do bà trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ M; bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Tại bản tự khai ngày 17 tháng 11 năm 2021, bị đơn ông Phan Quốc T trình bày:
Ông và bà Trần Thái L kết hôn vào năm 2014. Đến năm 2018, bà L có quan hệ tình cảm với người khác và bỏ ra ngoài sinh sống cho đến nay, ông không còn liên lạc với bà L. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên ông đồng ý ly hôn với bà L.
Về con chung: Có 01 con chung là trẻ Phan Nhất M, sinh ngày 20/3/2014. Khi ly hôn, ông đồng ý giao trẻ M cho bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; ông không cấp dưỡng nuôi con do bà L xác định một mình nuôi con không cần cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án với nội dung đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA T A ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, quá trình thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Trần Thái L khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Phan Quốc T, đây là tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn ông Phan Quốc T có nơi cư trú tại huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh do đó căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn bà Trần Thái L và bị đơn ông Phan Quốc T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bà L và ông T theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thái L và ông Phan Quốc T có đăng ký kết hôn vào ngày 26/01/2015 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Tân Túc, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 08/2015, quyển số 01/2015. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông T là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Xét yêu cầu ly hôn của bà Trần Thái L: Trong quá trình giải quyết vụ án, bà L xác nhận thời gian đầu vợ chồng bà chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên đến tháng 5/2017 thì vợ chồng bà bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do ông T thường xuyên nhậu nhẹt say xỉn về nhà gây chuyện với bà, bà và ông T đã sống ly thân từ tháng 7/2017 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.
[5] Mặt khác, tại bản tự khai ngày 17/11/2021 của ông T cho rằng bà L có quan hệ tình cảm với người khác và dọn ra ngoài sinh sống từ năm 2018 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên ông T đồng ý ly hôn với bà L.
[6] Tại khoản 1 Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về tình nghĩa vợ chồng như sau: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”.
[7] Tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án quyết định cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.
[8] Tại Công văn số 2671/UBND ngày 16/12/2021 của Ủy ban nhân dân thị trấn Tân Túc, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh về việc trả lời xác minh tình trạng hôn nhân của bà L và ông T thì Ủy ban nhân dân thị trấn Tân Túc không nắm rõ tình trạng hôn nhân của bà L và ông T.
[9] Mặc dù tại địa phương không nắm rõ tình trạng hôn nhân của bà L và ông T nhưng căn cứ vào phần trình bày tại bản tự khai của bà L và ông T thì Hội đồng xét xử có cơ sở xác định trong quá trình chung sống giữa bà L và ông T có phát sinh nhiều mâu thuẫn dẫn đến việc bà L và ông T không thể tiếp tục chung sống và đã sống ly thân cho đến nay. Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình hạnh phúc, vợ chồng tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau. Tuy nhiên, cuộc sống hôn nhân của bà L và ông T đã vi phạm nghĩa vụ của vợ chồng, hai bên không còn thương yêu, tin tưởng lẫn nhau. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bà L vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn đồng thời ông T cũng xác nhận tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên ông cũng đồng ý ly hôn với bà L. Điều này cho thấy cuộc sống hôn nhân của bà L và ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn cho nên việc duy trì quan hệ hôn nhân cũng không còn ý nghĩa gì nữa. Do đó, bà L yêu cầu ly hôn với ông T là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[10] Về con chung: Bà L và ông T xác nhận có 01 con chung là trẻ Phan Nhất M, sinh ngày 31/5/2015. Khi ly hôn, bà L yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ M; bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Còn ông T yêu cầu giao trẻ M cho bà L chăm sóc, nuôi dưỡng; ông không cấp dưỡng nuôi con.
[11] Tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.
[12] Hội đồng xét xử xét thấy trẻ Phan Nhất M hiện nay do bà L chăm sóc, nuôi dưỡng đồng thời ông T cũng có ý kiến giao giao trẻ M cho bà L nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Do đó yêu cầu của bà L về việc được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ Phan Nhất M là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đồng thời phù hợp với ý chí tự nguyện của ông T nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[13] Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bà L về việc bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con; nếu sau này các đương sự có sự tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con sẽ được giải quyết trong một vụ án khác.
[14] Về tài sản chung: Bà Trần Thái L và ông Phan Quốc T đều xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[15] Về nợ chung: Bà Trần Thái L và ông Phan Quốc T đều xác nhận không có do đó Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[16] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thái L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QU ẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 8, 9, 19, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thái L về việc yêu cầu ly hôn với ông Phan Quốc T.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thái L được ly hôn với ông Phan Quốc T.
Giấy chứng nhận kết hôn số 08/2015, quyển số 01/2015 đăng ký ngày 26/01/2015 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Tân Túc, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh không còn giá trị pháp lý.
1.2. Về con chung: Bà Trần Thái L và ông Phan Quốc T có 01 (một) con chung là trẻ Phan Nhất M, sinh ngày 31/5/2015.
Giao trẻ Phan Nhất M cho bà Trần Thái L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông Phan Quốc T cho đến khi bà Trần Thái L có yêu cầu.
Ông Phan Quốc T được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con sau này.
Cha mẹ không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.
Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
1.3. Về tài sản chung: Bà Trần Thái L và ông Phan Quốc T đều xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
1.4. Về nợ chung: Bà Trần Thái L và ông Phan Quốc T đều xác nhận không có do đó Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thái L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà bà L đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2019/0081140 ngày 17 tháng 3 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Trần Thái L đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Bà Trần Thái L và ông Phan Quốc T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND H.Bình Chánh; - Chi cục THADS H.Bình Chánh; - Ủy ban nhân dân thị trấn Tân Túc, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘ Đ NG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Kim Tuyền |