- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "tranh chấp quyền sử dụng đất"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Lê Thiều Phú L và bà Mai Thị Thanh T (ông Lại Văn G đại diện theo ủy quyền).
- Căn cứ chính? Điều 106 Luật Đất đai; Điều 147 Bộ luật Tố tụng d n sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng d n sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 164/2022/DS-PT Ngày: 09 – 5 – 2022 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguy n Ngọc Vạng.
Các Thẩm phán:
Ông Sỹ Danh Đạt;
Bà Nguy n Huỳnh Thị Hương Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguy n Bảo Quốc - Thư ký Tòa án nhân d n t nh Đồng Tháp.
- i di n i n Ki m s t nh n d n t nh ồng Th p: Bà Võ Thị Trang
- Ki m sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 04/5 và 09/5/2022, tại trụ s Tòa án nh n d n t nh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 37/2022/TLPT-DS ngày 16 tháng 02 năm 2022, về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do Bản án d n sự sơ thẩm số 82/2021/DS-ST ngày 20/12/2021 của Tòa án nh n d n huyện B bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 110/2022/QĐ-PT ngày 28 tháng 3 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
1.1. Anh Lê Thiều Phú L, sinh năm 1974
1.2. Chị Mai Thị Thanh T, sinh năm 1977
Cùng địa ch : Khóm B, phường M, thành phố L, t nh An Giang.
Đại diện theo ủy quyền của anh Lê Thiều Phú L, chị Mai Thị Thanh T: Ông Lại Văn G, sinh năm 1968; Địa ch : khóm N, phường M, thành phố L, t nh An Giang. (Có mặt)
2. Bị đơn:
2.1. Bà Bùi Thị H, sinh năm 1950
Đại diện theo ủy quyền của bà Bùi Thị H: Chị Nguy n Thị Kiều H, sinh năm 1973; Cùng địa ch : Ấp N, xã T, huyện B, t nh Đồng Tháp. (Có mặt)
2.1. Chị Nguy n Thị Kiều H, sinh năm 1973; địa ch : Ấp N, xã T, huyện B, t nh Đồng Tháp.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà H, bà H: Luật sư Trần Văn L, văn phòng Luật sư T - Đoàn Luật sư t nh Đồng Tháp; địa ch : Khóm T, thị trấn B, huyện B, t nh Đồng Tháp.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ủy ban nh n d n huyện B, t nh Đồng Tháp
Đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Văn N, chức vụ: Chủ tịch.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Mai Văn Đ, chức vụ: Phó Chủ tịch (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa ch : Khóm T, thị trấn B, huyện B, t nh Đồng Tháp.
3.2.Chị Lê Thiều Bảo U, sinh năm 1976; địa ch : Khóm B, phường M, thành phố L, t nh An Giang.
3.3. Anh Nguy n Thanh P, sinh năm 1981
3.4. Chị Nguy n Thị Kiều T, sinh năm 1983
3.5. Bà Nguy n Thị Kiều O, sinh năm 1969
3.6. Anh Nguy n Thanh V, sinh năm 1976
3.7. Chị Nguy n Thị Kiều T, sinh năm 1979
3.8. Chị Nguy n Thị Kiều D, sinh năm 1986
Đại diện theo ủy quyền của anh P, chị T, bà O, anh V, chị T, chị D: Chị Nguy n Thị Kiều H, sinh năm 1973; cùng địa ch : Ấp N, xã T, huyện B, t nh Đồng Tháp.
3.9. Anh Hồ Thanh K, sinh năm 1974; địa ch : Ấp N, xã T, huyện B, t nh Đồng Tháp. (Có mặt)
3.10. Anh Lê Văn Đ, sinh năm 1980; địa ch : Ấp N, xã T, huyện B, t nh Đồng Tháp. (Vắng mặt)
3.11. Anh Lê Mai Hoàng T, sinh năm 2000 (Vắng mặt)
3.12. Chị Lê Hoàng Thiên N, sinh năm 2003 (Vắng mặt)
Cùng địa ch : Khóm B, phường M, thành phố L, t nh An Giang.
4. Người kháng cáo: Ông Lại Văn G - Là người được ủy quyền kháng cáo theo ủy quyền của nguyên đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Ông Lại Văn G (đại diện theo ủy quyền của anh Lê Thiều Phú L, chị Mai Thị Thanh T) trình bày: Anh L, chị T có một phần diện tích đất 6.046m2 (HNK) thuộc thửa 278, tờ bản đồ số 01 được UBND huyện B, t nh Đồng Tháp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 22/9/2007, phần đất này có nguồn gốc từ ông bà đ lại cho cha mẹ anh L và đ lại cho anh L, chị T, trước đ y bà H có mượn đất của bà D đ canh tác đất, sau đó bà D yêu cầu bà H trả lại đất nhưng không trả, hiện nay đất do bà H và con bà H là chị H đang canh tác, nay gia đình anh L có nhu cầu sử dụng đất nên yêu cầu Tòa án buộc gia đình bà H, chị H trả lại diện tích 6.046m2 (đất trồng c y hàng năm khác) thuộc thửa 278, tờ bản đồ số 01 do hộ anh L, chị T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bổ sung yêu cầu bà H, chị H trả thêm diện tích đất 609m2 theo đo đạc thực tế 7.338,9m2, thuộc thửa 278, tờ bản đồ 01, (theo bản đồ địa chính chính quy gồm các thửa 06, 12, 17, tờ bản đồ số 10) do hộ bà H, chị H đang quản lý, sử dụng, đất tọa lạc tại Ấp N, xã T, huyện B, t nh Đồng Tháp.
- Luật sư Trần Văn L bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Bùi Thị H, chị Nguyễn Thị Kiều H trình bày: Nguồn gốc đất đang tranh chấp của ông Lê Phú M (ông nội của anh L), do đất của ông M là đất l m thừa định suất nên cho ông Nguy n Văn M khai phá đ canh tác từ năm 1977 đến năm 1983 hoàn thành được 15.000m2, canh tác đến năm 1987 thì ông M mất, con trai ông M là Lê Phú C đứng ra ph n chia đất, cho rằng đất này của ba ông C, nên ông C đã lấy lại 8.000m2 còn lại 6.406m2 gia đình ông M1 canh tác, năm 1993 ông C mất, năm 1993 - 1995 có chủ trương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông M1 đi kê khai đăng ký đất thì bà D nói đ bà đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì dù sau đất này cũng chia cho gia đình ông M1, chính vì thế ông M1 mới giao quyền lại cho bà D đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Năm 2004 bà D kh i kiện gia đình ông M1 yêu cầu trả đất nhưng sau đó rút đơn kh i kiện và Tòa án đình ch vụ án cho đến nay và phần đất gia đình bà H quản lý sử dụng, không biết lý do nào UBND huyện B lại cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L, bà T vào ngày 22/9/2007.
Bà H, chị H phản tố yêu cầu UBND huyện B thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 278, tờ bản đồ số 01, diện tích 6.406m2, do hộ ông Lê Thiều Phú L, bà Mai Thị Thanh T đứng tên, số bìa AK 61621, số vào sổ HO 0881 do UBND huyện B, t nh Đồng Tháp cấp ngày 22/9/2007 đ cấp lại cho hộ bà H và cả phần đất diện tích hộ bà H mua thêm 609m2 của ông Lê Văn Đ vào khoảng năm 2005, theo đo đạc thực tế 7.338,9m2 (theo bản đồ địa chính chính quy gồm các thửa 06, 12, 17, tờ bản đồ số 10) do hộ bà H đang quản lý, sử dụng, đất tọa lạc tại Ấp N, xã T, huyện B, t nh Đồng Tháp.
- Chị Nguyễn Thị Kiều H và chị H nhận ủy quyền của Bà H, anh P, chị T, chị O, anh V, chị T, chị D: Thống nhất với lời trình bày của Luật sư L, không bổ sung nội dung và yêu cầu gì thêm.
- Anh Hồ Thanh K trình bày: Đất tranh chấp hiện nay anh cùng với vợ là chị H canh tác, việc canh tác này là phụ với gia đình của vợ làm đ có thu nhập chung, không có cầm có hay thuê đất và anh thống nhất theo ý kiến chị H, anh không có ý kiến gì khác.
- Anh T, chị N, chị U vắng mặt có trình bày ý kiến: Thống nhất theo yêu cầu kh i kiện của anh Lê Thiều Phú L, chị Mai Thị Thanh T, không có yêu cầu gì khác.
- Anh Lê Văn Đ vắng mặt có trình bày ý kiến: Vào khoảng năm 2005, anh có phần đất dư một gốc khoảng 609m2, giáp ranh với đất của chị Nguy n Thị Kiều H, lúc đó đất dư anh không có sử dụng, cho nên những hộ giáp ranh mua dùm và chị H đã mua lại phần đất này với giá 0,5 ch vàng 24k, lúc bán ch nói miệng với nhau, sau khi nhận được vàng anh đã giao đất cho chị H từ đó cho đến nay, đất đã bán rồi anh không có ý kiến và tranh chấp gì đến phần đất này, anh yêu cầu Tòa án giải quyết đất này cho chị H, anh xin phép vắng mặt vì lý do bệnh không tham gia phiên tòa được.
- Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện B không có văn bản ý kiến và có đơn xin vắng mặt xét xử theo pháp luật.
- Bản án d n sự sơ thẩm của Tòa án nh n d n huyện B đã quyết định:
- Không chấp nhận yêu cầu kh i kiện và yêu cầu kh i kiện bổ sung của hộ anh Lê Thiều Phú L, chị Mai Thị Thanh T.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của hộ gia đình bà Bùi Thị H và chị Nguy n Thị Kiều H.
- Giữ nguyên hiện đất thực đo do hộ gia đình bà Bùi Thị H, chị Nguy n Thị Kiều H đang quản lý, sử dụng diện tích 7.338,9m2 thuộc thửa đất số 278, tờ bản đồ số 01 (theo bản đồ chính quy thuộc thửa 06; 12; 17, tờ bản đồ số 10), mục đích sử dụng BHK, được UBND huyện B, t nh Đồng Tháp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ anh Lê Thiều Phú L, chị Mai Thị Thanh T cấp ngày 22/9/2007, diện tích 6.406m2, thửa đất số 278, mục đích sử dụng đất trồng c y hàng năm khác, thực đo diện tích 7.338,9m2, đất tọa lạc tại xã T, huyện B, t nh Đồng Tháp cho hộ gia đình bà Bùi Thị H, chị Nguy n Thị Kiều H tiếp tục quản lý sử dụng.
Đề nghị Ủy ban nh n d n huyện B, t nh Đồng Tháp thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình anh Lê Thiều Phú L và chị Mai Thị Thanh T cấp ngày 22/9/2007, diện tích 6.406m2, thửa đất số 278, mục đích sử dụng đất trồng c y hàng năm khác, thực đo diện tích 7.338,9m2, đất tọa lạc tại xã T, huyện B, t nh Đồng Tháp, đ cấp lại cho hộ gia đình bà Bùi Thị H, chị Nguy n Thị Kiều H theo sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B, t nh Đồng Tháp ngày 06/4/2021.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá: Anh Lê Thiều Phú L, chị Mai Thị Thanh T phải chịu 8.447.564 đồng: Trong đó, chi phí đo đạc 4.703.564 đồng anh Lại Văn G đã thanh toán theo Biên bản nghiêm thu, thanh lý hợp đồng đo đạc ngày 16/7/2018 và chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền 450.000đ anh Lại Văn G đã nộp và chi xong; Chị Nguy n Thị Kiều H đã thanh toán theo Biên bản nghiêm thu, thanh lý hợp đồng đo đạc ngày 18/5/2021 số tiền 2.294.000 đồng và chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá số tiền 1.000.000 đồng chị H đã nộp và chi xong. Anh Lê Thiều Phú L, chị Mai Thị Thanh T có trách nhiệm liên đới trả lại cho chị Nguy n Thị Kiều H số tiền 3.294.000đ.
Về án phí d n sự sơ thẩm:
- Anh Lê Thiều Phú L, chị Mai Thị Thanh T phải có trách nhiệm liên đới nộp 18.347.250 đồng án phí d n sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp số tiền 7.911.000 đồng theo biên lai số 00632, quy n số 013 ngày 12/10/2017; biên lai số 0001806, quy n số 0037 ngày 19/3/2020; biên lai số 0014489, quy n số 0290 ngày 26/5/2021, của Chi cục Thi hành án d n sự huyện B, t nh Đồng Tháp. Anh Lê Thiều Phú L, chị Mai Thị Thanh T phải có trách nhiệm liên đới nộp tiếp số tiền 10.436.250 đồng án phí d n sự sơ thẩm tại Chi cục Thi hành án d n sự huyện B, t nh Đồng Tháp.
- Bà Bùi Thị H, chị Nguy n Thị Kiều H, anh Nguy n Thanh P, chị Nguy n Thị Kiều T, anh Nguy n Thanh V, chị Nguy n Thị Kiều O, chị Nguy n Thị Kiều T, chị Nguy n Thị Kiều D không phải nộp án phí d n sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho bà Bùi Thị H, chị Nguy n Thị Kiều H, anh Nguy n Thanh P, chị Nguy n Thị Kiều T, anh Nguy n Thanh V, chị Nguy n Thị Kiều O, chị Nguy n Thị Kiều T, chị Nguy n Thị Kiều D tiền tạm ứng án phí d n sự sơ thẩm 8.769.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0001913, quy n số 0039 ngày 08/5/2020, tại Chi cục Thi hành án d n sự huyện B, t nh Đồng Tháp.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan còn lại không phải nộp tiền án phí d n sự sơ thẩm.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên thời hạn kháng cáo của các đương sự và quyền yêu cầu thi hành án.
- Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 05/01/2022 ông Lại Văn G có đơn kháng cáo (nguyên đơn ủy quyền kháng cáo) toàn bộ bản án và yêu cầu hủy án sơ thẩm do án đã tước quyền s hữu hợp pháp của ông L và bà T.
- Tại phiên tòa phúc thẩm:
+ Ông Lại Văn G trình bày: Ông vẫn giữ nguyên việc kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về giải quyết vụ án và ông yêu cầu hủy án sơ thẩm.
Bà Nguy n Thị Kiều H trình bày: Bà H không đồng ý theo yêu cầu của ông L, bà T và đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
+ Đại diện Viện ki m sát nh n d n t nh Đồng Tháp ý kiến về giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến tại phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng d n sự năm 2015.
Về nội dung: Ông L bà T yêu cầu bà H trả diện tích đất đo đạc thực tế 7.338,9m2 giấy chứng nhận QSDĐ cấp cho hộ ông L bà T ngày 22/9/2007 (diện tích 6.406m2). Vì nguồn gốc đất của ông bà đ lại và bà H mượn canh tác.
Nhận thấy, nguồn gốc đất là của cụ M (cậu họ của ông M1), nhưng đất lâm nên cho ông M1 khai m từ năm 1977 đến năm 1983 mới hoàn thành diện tích 15.000m2. Năm 1987, ông M1 trả lại cho ông C con của cụ M (lúc này cụ M đã chết) 8.000m2, sau đó ông M1 đi đăng ký cấp giấy chứng nhận thì được biết bà D đã kê khai đất. Căn cứ công văn của Ủy ban nh n d n huyện B thì việc cấp giấy cho bà D không có đo đạc thực tế; ông M1 và bà H đang sử dụng nhưng không làm rõ nên cấp sai đối tượng. Vì vậy bà D tặng cho đất cho ông L, bà T phần đất tranh chấp là không phù hợp. Đối với diện tích 609m2 bà H chứng minh được đất nhận chuy n nhượng của ông Đ vào năm 2005 giá 0,5 ch vàng 24k, nhưng nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ là của nguyên đơn.
Mặt khác, ông L và bà T không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho bà H mượn đất. Do đó kháng cáo của ông G là không có căn cứ đ chấp nhận, nên đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Ông L kh i kiện đối với bà H về việc tranh chấp QSDĐ, Tòa án nhân d n huyện B thụ lý giải quyết vụ án d n sự sơ thẩm là đúng quy định. Ông L nộp đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên chấp nhận. Ông L và bà T ủy quyền cho ông Lại Văn G; bà H, anh P, chị T, chị O, anh V, chị T, chị D ủy quyền cho bà H thủ tục phù hợp quy định nên chấp nhận. Các đương sự khác có đơn xin vắng mặt và tống đạt hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không lý do, nên xét xử theo quy định. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông G cho rằng phía gia đình nguyên đơn đang nước ngoài đi trị bệnh và du lịch, nhưng ông thừa nhận quá trình giải quyết vụ án không có khai việc này, nay cũng không có căn cứ chứng minh theo đúng quy định của pháp luật.
Ông L và bà T trình bày, nguồn gốc đất của ông bà đ lại cho ông L và bà T, diện tích đất tranh chấp là 6.046m2 (đất trồng c u hàng năm khác) thuộc thửa 278, tờ bản đồ số 01 (theo bản đồ địa chính chính quy gồm các thửa 06, 12, 17 tờ bản đồ số 10, mục đích sử dụng BHK), giấy chứng nhận QSDĐ cấp cho ông L ngày 22/9/2007, đất tại xã T, huyện B, Đồng Tháp. Do trước đ y bà H mượn đất của bà D (mẹ của ông L) đ canh tác, nay bà D đã tặng cho lại cho ông L, bà T. Vì vậy yêu cầu hộ bà H, chị H trả lại đất. Bà H không đồng ý theo yêu cầu của ông L, vì nguồn gốc đất là của cụ M (ông nội của ông L, cậu họ của ông M1) cho ông M1 (chồng bà H) khai m từ năm 1977 đến năm 1983 mới hoàn thành diện tích 15.000m2. Sau này ông C (con cụ M) nhận lại một phần và đã cho ông M1 diện tích đất tranh chấp nói trên.
Nhận thấy, nguồn gốc đất tranh chấp của cụ M nhưng trước đ y là đất l m, hoang hóa, do ông M1 là người làm công cho gia đình cụ M nên được cụ M cho đất đ khai m đất l m canh tác. Vì theo tờ tường trình ngày 22/3/2007 của ông L thừa nhận ông M1 là người làm công cho gia đình cụ M và trong nhà cụ M từ nhỏ đến lớn. Khi ph n chia đất thì ông M1 có trả lại một phần. Như vậy do có mối quan hệ th n thuộc nêu trên nên mới có việc cụ M1 được cho đất khai m canh tác.
Mặt khác, hiện trạng đất trước đ y là loại đất l m nên ông M1 phải khai m và đã đầu tư nhiều công sức, chi phí đ cải tạo đất trong thời gian dài mới sản xuất được, nên ông M1 giao lại 8.000m2 cho con cụ M. Việc này đã được ông L thừa nhận tại biên bản đối chất ngày 26/3/2007. Diện tích còn lại đo thực tế 6.729,9m2 thì đã giao lại cho ông M1 nhằm bù đắp công sức và thực tế gia đình ông M1 sử dụng ổn định từ năm 1977 đến nay trên 40 năm. Việc sử dụng đất của ông M1 đã được các nh n chứng như ông Lâm Văn B nguyên Tập đoàn phó, ông Nguy n Văn B nguyên Liên Tập đoàn trư ng và ông Phạm Phước T kế toán Liên Tập đoàn, Ban Nông nghiệp xã T xác nhận nguồn gốc đất là của cụ M nhưng là loại đất l m nên gia đình ông M1 khai m sản xuất. Trong diện tích 7.338,9m2 có diện tích đất 609m2 do bà H nhận chuy n nhượng của ông Đ và ông Đ xác nhận việc chuy n nhượng đất cho bà H là có thật, trong khi đó ông G không cung cấp được chứng cứ chứng minh 609m2 là đất của nguyên đơn.
Đối với Bản án số 64/2006/DSST ngày 31/8/2006 của Tòa án cấp sơ thẩm đã bị Bản án phúc thẩm của Tòa án T nh hủy đ giải quyết lại (án số 527 ngày 21/12/2006) và bà D đã rút đơn kh i kiện nên vụ án bị đình ch theo quy định.
Theo Công văn số 213/UBND-NC ngày 19/3/2021 của Ủy ban nh n d n huyện B có ý kiến như sau: Ngày 23/10/1993, bà Thiều Thị D kê khai đăng ký QSDĐ tổng diện tích 19.481m2. Trong đó có thửa 278 tờ bản đồ số 01 diện tích 6.406m2 (ĐM) giấy chứng nhận cấp cho Dung ngày 07/8/1995. Việc cấp giấy chứng nhận thửa 278 nêu trên theo trình tự tự thủ tục tại thời đi m năm 1995, không có đo đạc thực tế, không có tranh chấp. Năm 2007, bà D làm thủ tục tặng cho QSDĐ thửa 278 tờ bản đồ số 01 diện tích 6.406m2 cho ông L và giấy chứng nhận cấp cho hộ ông L, bà T ngày 22/9/2007. Việc cấp giấy chứng nhận thửa 278 cho hộ ông L theo trình tự thủ tục tại thời đi m năm 2007 không có đo đạc thực tế, không có tranh chấp. Năm 1995, Ủy ban nh n d n huyện B cấp giấy chứng nhận cho bà D là dựa vào đơn xin đăng ký của bà D đã được Ủy ban nh n d n xã T xét và trình Ủy ban nh n d n Huyện cấp giấy chứng nhận. Vì vậy, gia đình bà H đang sử dụng đất nhưng giấy chứng nhận cấp cho bà D là chưa phù hợp.
Qua nội dung trên cho thấy việc ông M1 tự nguyện trả lại hơn diện tích khai m đất l m và ông M1 ch nhận diện tích nhỏ hơn là phù hợp. Vì vậy không phải là đất cho mượn. B i vì: Từ khi ông M1 khai m l m đến cụ M chết cũng không có đòi đất và không có tài liệu chứng cứ th hiện cụ M cho mượn đất hoặc chứng cứ chứng minh phần đất tranh chấp được cụ M cho bà D, ông L; đồng thời năm 1987 ông C nhận lại 8.000m2 hoàn toàn không khiếu nại hoặc tranh chấp với ông M1. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông G cũng không chứng minh được là ông C yêu cầu ông M1 cam kết mượn phần đất tranh chấp, như vậy ông C đã thống nhất đất tranh chấp là của ông M1. Do đó công nhận QSDĐ cho hộ bà H là người khai m đất hoang hóa đã sử dụng ổn định nên tiếp tục được sử dụng là có căn cứ. Việc bà D thực hiện giao dịch tặng cho đất lại cho ông L, bà T cần phải thu hồi QSDĐ đ cấp lại cho hộ bà H theo quy định, nên yêu cầu kháng cáo của ông L, bà T (ông G đại diện) là không có cơ s .
Đại diện Viện ki m sát T nh đề nghị không chấp kháng cáo của ông L, bà T. Giữ nguyên bản án sơ thẩm là có cơ s nên chấp nhận.
Án sơ thẩm xử đã có căn cứ pháp luật nên giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông L, bà T nhưng điều ch nh cách tuyên án. Các phần khác không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
Án phí: Ông L, bà T liên đới chịu tiền án phí d n sự phúc thẩm là 300.000đ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 147, Điều 148 của Bộ luật Tố tụng d n sự năm 2015; Điều 463, Điều 465, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật D n sự năm 2015; Điều 106 Luật đất đai năm 2013; khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Lê Thiều Phú L và bà Mai Thị Thanh T (ông Lại Văn G đại diện theo ủy quyền).
Giữ nguyên bản án d n sự sơ thẩm.
2. Không chấp nhận yêu cầu của ông Lê Thiều Phú L, bà Mai Thị Thanh T.
Buộc hộ ông Lê Thiều Phú L (các thành viên gồm: Ông Lê Thiều Phú L, bà Mai Thị Thanh T, bà Lê Thiều Bảo U, anh Lê Mai Hoàng T, chị Lê Hoàng Thiên N) giao quyền sử dụng đất cho bà Bùi Thị H, bà Nguy n Thị Kiều H, anh Nguy n Thanh P, chị Nguy n Thị Kiều T, bà Nguy n Thị Kiều O, anh Nguy n Thanh V, chị Nguy n Thị Kiều T, chị Nguy n Thị Kiều D (các đồng thừa kế của ông M1), diện tích đo đạc thực tế 7.338,9m2 (diện tích cấp giấy chứng nhận là 6.406m2) thửa đất số 278, tờ bản đồ số 01, đất trồng c y hàng năm khác, giấy chứng nhận QSSĐ cấp cho hộ ông Lê Thiều Phú L ngày 22/9/2007.
Bà Bùi Thị H, bà Nguy n Thị Kiều H, anh Nguy n Thanh P, chị Nguy n Thị Kiều T, bà Nguy n Thị Kiều O, anh Nguy n Thanh V, chị Nguy n Thị Kiều T, chị Nguy n Thị Kiều D được QSDĐ diện tích 7.338,9m2 thuộc thửa đất số 278, tờ bản đồ số 01, đất trồng c y hàng năm khác (theo bản đồ chính quy thuộc thửa 06; 12; 17, tờ bản đồ số 10, mục đích sử dụng BHK), đất tại xã T n Huề, huyện B, t nh Đồng Tháp (hộ bà H, đang quản lý, sử dụng).
Các đương sự được đến các cơ quan có thẩm quyền đ đăng ký điều ch nh, cấp giấy chứng nhận QSDĐ theo quy định.
Đề nghị Ủy ban nh n d n huyện B, t nh Đồng Tháp thu hồi Giấy chứng nhận QSDĐ của hộ gia đình ông Lê Thiều Phú L và bà Mai Thị Thanh T cấp ngày 22/9/2007, đối với diện tích nói trên đ cấp lại cho hộ gia đình bà Bùi Thị H, (kèm theo sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 06/4/2021).
3. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá: Ông Lê Thiều Phú L, bà Mai Thị Thanh T phải chịu 8.447.564đ: Trong đó, chi phí đo đạc 4.703.564đ và chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền 450.000đ anh Lại Văn G đại diện nộp và chi xong; bà Nguy n Thị Kiều H đã tạm ứng chi phí đo đạc số tiền 2.294.000đ và chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá số tiền 1.000.000đ và chi xong. Do đó, ông Lê Thiều Phú L, bà Mai Thị Thanh T có trách nhiệm liên đới trả lại cho bà Nguy n Thị Kiều H số tiền 3.294.000đ.
4. Về án phí:
Án phí d n sự sơ thẩm:
Ông Lê Thiều Phú L, bà Mai Thị Thanh T phải liên đới chịu 18.347.250đ, nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp số tiền 7.911.000đ theo biên lai số 00632, ngày 12/10/2017; biên lai số 0001806, ngày 19/3/2020; biên lai số 0014489, ngày 26/5/2021 của Chi cục Thi hành án d n sự huyện B, t nh Đồng Tháp. Vậy ông Lê Thiều Phú L, bà Mai Thị Thanh T phải nộp tiếp số tiền 10.436.250đ.
Hoàn trả lại cho bà H, bà H, anh P, chị T, anh V, chị O, chị T, chị D tiền tạm ứng án phí d n sự sơ thẩm 8.769.000đ đã nộp theo biên lai số 0001913, ngày 08/5/2020 của Chi cục Thi hành án d n sự huyện B, t nh Đồng Tháp.
Án phí d n sự phúc thẩm: Ông Lê Thiều Phú L, bà Mai Thị Thanh T liên đới chịu 300.000đ án phí d n sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp 300.000đ (ông G đại diện nộp) theo biên lai số 0001356 ngày 10/01/2022 của Chi cục Thi hành án d n sự huyện B, t nh Đồng Tháp.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án d n sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án d n sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án d n sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND T nh; - TAND huyện B; - Chi cục THADS huyện B; - Phòng KTNV &THA- TAND T nh; - Lưu: VT, HSVA, TDS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Vạng |