- Tranh chấp gì? án dân sự — "Bà Nguyễn Thị N kiện anh Nguyễn Thanh Tùng"
- Tòa quyết gì? Căn c khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ chính? Điều 357 Bộ luật Dân sự; Điều 430 Bộ luật Dân sự; Điều 440 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 164/2022/DS-PT Ngày: 05/9/2022 V/v “Tranh chấp về hợp đồng mua bán” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Bích Vân
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Thị Nhiên
Ông Trần Bình Đảo
- Thư ký phiên tòa: Ông Lâm Nguyễn Thanh Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Ngọc Trâm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 109/2022/TLPT-DS ngày 01 tháng 8 năm 2022 về việc “Tranh chấp về hợp đồng mua bán”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 47/2022/DS-ST ngày 30 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện HĐ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 135/2022/QĐ-PT ngày 22 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1963. Địa chỉ: p TT, x TH, huyện CĐ, Thành phố Cần Thơ (Có mặt).
2. Ông Trần Minh L, sinh năm: 1967. Địa chỉ: p TL, x TT, huyện CĐ, Thành phố Cần Thơ (Có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đồng nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Đăng Th - Văn phòng luật sư TT, thuộc Đoàn luật sư Thành phố Cần Thơ (Có mặt).
- đơn:
1. Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm: 1986. Địa chỉ: p VT, x VN, huyện CT, tỉnh An Giang (Có mặt).
2. Ông Châu Văn H, sinh năm: 1971 (Có mặt);
3. Bà Dương Thị T, sinh năm: 1973 (Có mặt);
C ng địa chỉ: p Số X, x SK, huyện HĐ, tỉnh Kiên Giang.
- Người kháng cáo: Bị đơn anh Nguyễn Thanh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo lời khai của nguyên đơn bà Nguyễn Th N, ông Trần Minh L tr nh bày:
1. à Nguyễn Th N tr nh bày:
Vào vụ H - Thu năm 2019, bà Nguyễn Thị N đầu tư tiền mua lúa giống nhật (DS1) còn ông Trần Minh L tìm kiếm thị trư ng tiêu thụ, khi thu hoạch thì thu mua lại lúa tươi cho nông dân. Ông Trần Minh L có báo cho bà N biết việc h p tác v i anh Nguyễn Thanh T, h p tác như thế nào thì bà không tham gia. Bà N và ông L giao cho anh T v i lư ng lúa giống là 17.040kg, giá là 13.000đ ng/kg. Sau khi nhận lúa anh T giao cho nông dân gieo xạ. Đến k thu hoạch do không th a thuận đư c giá thu mua lúa tươi v i nông dân, nên bà N và ông L chỉ mua đư c số lư ng lúa của 100 công đ t v i giá 4.700 đ ng/kg tương ng v i lư ng lúa giống là 840kg, nên số lúa giống còn lại là 16.200kg. Trong quá trình giải quyết tại c p sơ thẩm, bà Nguyễn Thị N thay đổi và chỉ yêu cầu anh Nguyễn Thanh T, ông Châu Văn H và bà Dương Thị T liên đ i thanh toán tiền lúa giống còn lại là 16.200kg x 13.000 đ ng/kg thành tiền là 210.600.000đ (Hai tr m mười triệu sáu tr m ngh n đồng .
2. Ông Trần Minh L tr nh bày:
Bà Nguyễn Thị N có đầu tư tiền mua lúa giống nhật (DS1) là đúng. Ông Trần Minh L sẽ cung c p cho anh T lúa giống nhật (DS1) v i giá 13.000 đ ng/kg, còn nhiệm vụ anh T là tìm kiếm bà con nông dân gieo xạ, đến khi thu hoạch phía bà N sẽ thu mua lúa tươi v i giá 4.700 đ ng/kg, anh T sẽ đư c hưởng 50 đ ng/kg lúa tươi. Anh T sau khi nhận lúa t ông L thì giao cho nông dân và gởi danh sách qua mạng Zalo cho ông L theo d i, sau khi nông dân gieo xạ thì ông L và bà N phải xuống đưa thêm tiền cọc cộng v i tiền lúa giống 13.000 đ ng/kg cho đủ 400.000đ ng/công và h p đ ng bao tiêu v i nông dân. Anh T tìm đư c 30 hộ v i số lư ng lúa giống là 17.040kg. Đến m a thu hoạch, ông L và bà N do không thương lư ng đư c giá nên chỉ thu mua đư c 100 công lúa tươi, tương ng v i 840kg lúa giống, còn lại phía anh T và ông H, bà T bán cho thương lái khác mà không trả lại tiền lúa giống cho bà N. Do số tiền đầu tư giống là của bà N, nên ông L không có yêu cầu gì, nay ông L chỉ đề nghị Tòa án buộc anh Nguyễn Thanh T, ông Châu Văn H và Dương Thị T liên đ i trả cho bà Nguyễn Thị N số lúa giống còn thiếu là 210.600.000đ (Hai tr m mười triệu sáu tr m ngh n đồng .
- Theo lời khai của b đơn tr nh bày như sau:
1. Anh Nguyễn Thanh T tr nh bày: Vào vụ H - Thu năm 2019, ông Trần Minh L th a thuận v i anh T về việc: Ông L cung c p lúa giống và thu mua lại lúa tươi cho nông dân v i giá sàn 4.700 đ ng/kg, anh Tu đư c hưởng 50 đ ng/kg lúa tươi khi ông L thu mua. Giá lúa giống ông L đưa ra là 13.000 đ ng/kg, tiền lúa giống coi như tiền cọc và ông L sẽ tr vào tiền thu mua lúa tươi, sau khi nông dân gieo xạ 15 ngày sẽ đưa thêm tiền cho đủ 400.000 đ ng/công và thực hiện h p đ ng bao tiêu, khi th a thuận không có mặt bà N. Sau đó, anh T tìm ông Châu Văn H là một ngư i cò lúa tại x SK, huyện HĐ, th a thuận như nội dung trên nhưng không có mặt ông L. Ông H đư c hưởng 25 đ ng/kg lúa tươi, số tiền 25 đ ng này n m trong số tiền 50 đ ng ông L th a thuận trả cho anh T. Ông Châu Văn H cung c p cho anh T danh sách và anh T gởi cho ông L qua mạng Zalo, phía ông L cho xe xuống giao lúa cho anh Nguyễn Thanh T và bà Dương Thị T. Tổng số lúa giống anh T nhận t ông Lữ là 426 bao x 40kg/bao 17.040kg. Anh T giao cho ông Châu Văn H và bà Dương Thị T theo danh sách là 316 bao x 40kg/bao 12.640kg, số lúa còn lại là 4.400kg anh T tự giao, mà không liên quan đến ông H và bà T.
Sau khi gieo xạ, thì phía ông L không đưa thêm tiền cọc mặc d anh Tu điện nhiều lần, đến gần ngày thu hoạch khoảng 20 ngày thì ông Châu Văn H báo cho anh Nguyễn Thanh T là nếu không xuống đưa cọc, thì nông dân sẽ bán lúa cho ngư i khác và sẽ m t tiền lúa giống, vì tiền lúa giống thông thư ng đư c coi như một phần tiền cọc. Anh T ng thông báo thì ông Lữ, bà Nương có đến gặp một số hộ nông dân, phía bà Nương thương lư ng giá lúa thu mua là 4.600 đ ng/kg nhưng nông dân không đ ng ý mà phải mua theo giá đ th a thuận là 4.700 đ ng/kg lúa tươi hoặc v i giá 4.600 đ ng/kg thì phải giảm giá lúa giống còn 10.000 đ ng/kg nhưng bà N không đ ng ý, nên không th a thuận đư c.
Đến khi cắt lúa bà N và ông L chỉ thu mua lúa tươi của khoảng 100 công đ t, tương đương số lư ng lúa giống là 840kg, do nông dân đến nhà ông H yêu cầu thu mua thì anh T có điện báo nhưng ông L không xuống nên phía ông Châu Văn H nh thương lái khác thu mua, ông H có đưa cho anh T tiền lúa giống là 20.000.000 đ ng. Anh Nguyễn Thanh T không th a nhận việc mua bán lúa giống v i ông L và bà N, mà chỉ h p tác v i nhau. Do đó anh Nguyễn Thanh T không đ ng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
2. Ông Châu V n H tr nh bày: Ông H thống nh t như l i khai của anh T như trên. Đến khi nông dân thu hoạch phía anh T, bà N, ông L không thu mua nên ông Châu Văn H phải gi i thiệu thương lái khác để bán lúa tươi và ông H có thu đư c tiền lúa giống đưa cho anh T là 20.000.000 đ ng. Nay không đ ng ý v i yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vì ông H không mua lúa giống của bà N và ông L, c ng như không có h p tác gì v i nhau.
3. à Dương Th T: Bà là v ông Châu Văn H, bà có nhận lúa giống của anh T để giao cho bà con nông dân gieo xạ mục đích để hưởng hoa h ng, số lúa nhận giao cho t ng hộ nông dân là 12.640kg. Khi đi giao lúa thì có mặt anh T và ngư i dân làm biên nhận lúa v i anh T. Nay bà không đ ng ý v i yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 47/2022/DS-ST ngày 30 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện HĐ, tỉnh Kiên Giang quyết định:
Ch p nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1. Buộc anh Nguyễn Thanh T thanh toán cho bà Nguyễn Thị N số tiền mua lúa giống còn n là 210.600.000đ (Hai tr m mười triệu sáu tr m ngh n đồng .
2. Không ch p nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị N buộc ông Châu Văn H và bà Dương Thị T liên đ i trả tiền n v i anh Nguyễn Thanh T.
3. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn v i phần tiền rút yêu cầu khởi kiện là 60.564.192đ Sáu mươi triệu n m tr m sáu mươi b n ngh n m t tr m chín mươi hai đồng .
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, l i chậm trả và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 10/6/2022, bị đơn anh Nguyễn Thanh T có đơn kháng cáo với nội dung: Yêu cầu xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm, do Tòa sơ thẩm chưa xem xét các ch ng c trong h sơ một cách khách quan.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Ý kiến của nguyên đơn tr nh bày: Nay bà N chỉ yêu cầu anh T trả lại tiền gốc lúa giống v i giá là 10.000 đ ng/kg, số lư ng còn lại là 16.200kg, thành tiền là 162.000.000 đ ng.
Luật sư thống nh t ý kiến của nguyên đơn.
- Ý kiến của anh T tr nh bày: Thống nh t có nhận tổng số lúa giống là 17.040kg, giao theo danh sách của ông H là 12.640kg, còn lại 4.400kg anh T tự giao cho nông dân. Sau khi giao lúa thì có hộ không gieo mà trả lại giống, phần lúa này anh T gửi chỗ của ông H. Khi anh giao lúa lại cho nông dân thì anh có kê giá lúa giống lên t 13.000 đ ng/kg thành 13.500 đ ng - 14.000 đ ng/kg để hưởng chênh lệch và nông dân có ký biên nhận v i anh. Sau khi bán lúa tươi thì ông H có giao cho anh tiền lúa giống là 20.000.000 đ ng và có một hộ nông dân trả cho anh tiền lúa giống là 1.800.000 đ ng, anh có xin giao toàn bộ tiền này lại cho bà N, nhưng bà N không nhận. Nay bà N yêu cầu số tiền 162.000.000 đ ng, thì anh không có ý kiến, nhưng anh không đ ng ý tự trả số tiền này cho bà N vì anh không có khả năng, mà anh chỉ chịu trách nhiệm thu h i lại tiền vốn t nông dân, đư c bao nhiêu thì anh sẽ trả cho bà N b y nhiêu.
- Ý kiến ông H, bà T: Th a nhận có giao giống cho nông dân là 12.640kg, ông bà đ giao hết cho nông dân, số lúa giống nông dân trả lại thì anh T có gửi chỗ của ông và nay c ng bị chuột, vịt ăn hết.
Phát biểu ý kiến của kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về việc tuân theo tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đ ng xét xử ở giai đoạn phúc thẩm là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung vụ án và hư ng giải quyết: Đề nghị ghi nhận sự tự nguyện của bà N về việc chỉ yêu cầu anh T trả theo giá gốc là 10.000 đ ng/kg trên số lúa giống chưa thu h i đư c là 16.200kg, thành tiền là 162.000.000 đ ng; Anh T có th a thuận v i phía nguyên đơn, đ ng th i có nhận lúa giống do nguyên đơn giao, sau đó giao lại cho nông dân và tự nâng giá để hưởng l i. Do đó, anh T phải chịu trách nhiệm trả lại tiền lúa giống cho bà N. Vì vậy, đề nghị sửa bản án dân sự sơ thẩm số 47/2022/DS-ST ngày 30/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện HĐ theo hư ng buộc anh T phải có nghĩa vụ trả cho bà N số tiền 162.000.000 đ ng. Ch p nhận kháng cáo của anh T do tại phiên tòa phúc thẩm số tiền bị buộc trả có thay đổi.
Căn c vào các tài liệu, ch ng c đ đư c xem xét, thẩm tra tại phiên tòa; căn c vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các ch ng c , ý kiến của đương sự, ngư i bảo vệ quyền và l i ích h p pháp của đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về n i dung vụ án như sau: Các bên thống nh t về việc bà N, ông L có giao lúa giống Nhật (DS1) cho anh T là 17.040kg, v i giá là 13.000 đ ng/kg. Anh T nhận lúa giống v i mục đích là giao lại cho nông dân sản xu t, đến khi thu hoạch thì ông L, bà N sẽ đến ruộng của nông dân để thu mua lại lúa tươi. Nhưng sau khi nhận lúa giống, thì anh T giao lại cho nông dân và tự nâng giá để hưởng l i nhuận của số tiền chênh lệch, khi nông dân nhận lúa thì viết biên nhận v i anh T. Việc th a thuận giao nhận lúa giữa bà N, ông L v i anh T c ng như việc cho r ng bao tiêu sản phẩm c ng chỉ th a thuận b ng l i nói (th a thuận miệng) mà không có lập thành văn bản. Đến khi thu mua lúa tươi thì bà N chỉ thu h i đư c tương đương v i 840kg lúa giống, số lúa giống còn lại chưa thu h i đư c là 16.200kg. Nay bà N chỉ yêu cầu l y giá gốc là 10.000 đ ng/kg v i số lúa giống là 16.200kg, thành tiền là 162.000.000 đ ng. Anh T hiện còn đang giữ số tiền lúa giống do nông dân trả lại là 21.800.000 đ ng.
Xét kháng cáo của b đơn Nguyễn Thanh T thấy rằng: Thực tế, anh T có nhận đủ số lư ng lúa giống là 17.040kg do phía bà N, ông L giao. Anh T cho r ng anh chỉ là trung gian hưởng tiền hoa h ng sau khi phía bà N thu mua lúa tươi là chưa ph h p. Bởi lẽ, khi giao lúa cho nông dân thì anh T có nâng giá cao hơn giá do phía bà N giao để hưởng l i nhuận. Cho th y, anh T không phải là trung gian chỉ làm nhiệm vụ gi i thiệu cho nông dân gieo giống và bao tiêu sản phẩm, mà anh T nhận hàng do phía bà N giao và chuyển lại cho nông dân để tự hưởng l i nhuận riêng. Tuy anh T không th a nhận việc mua - bán v i phía bà N, nhưng sau khi nhận hàng (lúa giống) thì anh T đ tự nâng giá khi giao quyền sở hữu (bán) lại cho nông dân nh m hưởng l i nhuận. Mặc khác, anh T cho r ng giữa các bên có th a thuận phía bà N bao tiêu sản phẩm, tuy nhiên việc th a thuận này c ng không r ràng, vì lẽ đó bà N không thương lư ng đư c giá thu mua lúa tươi v i nông dân nên dẫn đến hậu quả là lư ng lúa giống anh T giao cho nông dân không thu h i đủ. Việc th a thuận giữa anh T v i phía bà N không thể hiện r trách nhiệm ai sẽ là ngư i chịu thiệt hại phần vốn đầu tư, trong trư ng h p phía bà Nương không mua đư c lúa tươi sau khi thu hoạch, c ng như về số tiền anh T tự nâng giá sẽ đư c th a thuận như thế nào…nên chưa có đủ cơ sở xác định giao dịch giữa anh T v i phía bà N là h p tác tác đầu tư sản xu t. Trong khi anh T giao lúa cho nông dân thì những ngư i này đều làm biên nhận v i anh T. Do đó, anh T phải có nghĩa vụ đối v i bà N, anh T phải có trách nhiệm thu h i lại số lúa giống mà anh đ giao cho nông dân để trả lại cho phía bà N, do nông dân đ gieo xạ nên không thu h i đư c lúa giống thì anh T phải thu h i b ng tiền tương đương v i số lúa giống mà anh T đ nhận để giao trả tiền lại cho phía bà N.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà N giảm giá lúa xuống còn là 10.000 đ ng/kg/16.200kg, thành tiền là 162.000.000 đ ng là trên cơ sở tự nguyện không trái pháp luật và đạo đ c x hội, nên Hội đ ng xét xử ghi nhận. Theo đó, anh T có nghĩa vụ trả lại cho bà N số tiền này. Do đó, xét kháng cáo của anh T về việc xem xét lại số tiền bị buộc trả và tại phiên tòa phúc thẩm số tiền bà N yêu cầu anh T phải trả có thay đổi, nên kháng cáo của anh T đư c ch p nhận một phần. Tuy nhiên, đây là tình tiết phát sinh tại phiên tòa phúc thẩm, nên Bản án dân sự sơ thẩm bị sửa là mang tính khách quan.
T những căn c nhận định nêu trên, trong thảo luận nghị án, Hội đ ng xét xử nhận th y buộc anh T trả cho bà N số tiền là 162.000.000 đ ng; Ch p nhận một phần kháng cáo của anh T; Ý kiến của Luật sư bảo vệ quyền và l i ích h p pháp cho nguyên đơn là có cơ sở; Ch p nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa về việc sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 47/2022/DS-ST ngày 30/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện HĐ, tỉnh Kiên Giang theo hư ng sửa lại số tiền anh T bị buộc trả và án phí.
Về án phí dân sự:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc anh T phải nộp án phí v i số tiền là 8.100.000 đ ng (162.000.000 đ ng x 5%).
Do yêu cầu khởi kiện của bà N và ông L đư c ch p nhận, nên hoàn lại tạm ng án phí sơ thẩm cho bà Nương và ông Lữ.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của anh Nguyễn Thanh T đư c Hội đ ng xét xử ch p nhận, nên không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại tiền tạm ng án phí phúc thẩm cho anh T.
V các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn c khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 430, Điều 440, khoản 2 Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
Nghị định số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Ch p nhận một phần nội dung kháng cáo của anh Nguyễn Thanh T.
Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 47/2022/DS-ST ngày 30 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện HĐ, tỉnh Kiên Giang.
Tuyên xử:
1. Buộc anh Nguyễn Thanh T phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị N số tiền 162.000.000đ M t tr m sáu mươi hai triệu đồng .
Kể t ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền l i của số tiền còn phải thi hành án theo m c l i su t quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc anh Nguyễn Thanh T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm v i số tiền là 8.100.000đ Tám triệu m t tr m ngh n đồng .
Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị N và ông Trần Minh L v i tổng số tiền tạm ng án phí 6.800.000đ Sáu triệu tám tr m ngh n đồng theo các biên lai thu tạm ng án phí, lệ phí Tòa án số 0009258 và 0009257 c ng ngày 09/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện HĐ, tỉnh Kiên Giang (Do bà Nguyễn Thị N nộp).
- Án phí dân sự phúc thẩm: Hoàn trả cho anh Nguyễn Thanh T số tiền tạm ng án phí đ nộp 300.000đ a tr m ngh n đồng theo biên lai thu tạm ng án phí, lệ phí Tòa án số 0008011 ngày 10/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện HĐ, tỉnh Kiên Giang.
Trư ng h p bản án, quyết định đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngư i đư c thi hành án dân sự, ngư i phải thi hành án dân sự có quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; th i hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể t ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Kiên Giang; - Các đương sự; - TAND huyện HĐ; - Chi cục THADS huyện HĐ; - Lưu h sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký và đóng dấu Đặng Thị Bích Vân |