vanban.org

Bản án 164/2021/HSST — Hình sự

TAND TP. Hải Dương, tỉnh Hải Dương Tuyên án 29/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Về áp dụng pháp luật:

[2]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Quý H phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Quý H - Trộm cắp tài sản và tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? [1]. Về áp dụng pháp luật:
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 164/2021/HSST
Ngày 29/11/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG

- Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Quyết và ông Nguyễn Minh Tân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương.

- Đại diện VKSND thành phố Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2021, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 152/2021/HSST ngày 14 tháng 10 năm 2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 162/2021/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2021, đối với bị cáo:

Bùi Quý H, sinh năm 1983; Tên gọi khác: K; Nơi sinh: Hải Dương; Nơi ĐKHKTT: Số 21 Đ, phường P, thành phố H, tỉnh Hải Dương; Chỗ ở: Số 5/60/293 N, phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Bùi Quý B (Đã chết) và bà Đỗ Thị N - Sinh năm 1954; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba; Tiền sự: Không.

Tiền án:

- Tại Bản án số 15/2012/HSST ngày 16/02/2012, Tòa án nhân dân TP Hải Dương xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Trị giá tài sản 4.290.000 đồng), (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/8/2012, nộp án phí hình sự và án phí dân sự ngày 20/5/2013, chưa thi hành phần bồi thường dân sự).

- Tại Bản án số 140/2016/HSST ngày 27/9/2016, Tòa án nhân dân TP Hải Dương xử phạt 27 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (Nộp án phí ngày 13/4/2017, chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/7/2018).

- Tại Bản án số 150/2019/HS-ST ngày 26/9/2019, Tòa án nhân dân TP Hải Dương xử phạt 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/12/2020).

Nhân thân:

- Tại Bản án số 23/2008/HSST ngày 25/01/2008, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Trị giá tài sản 950.000 đồng), (Nộp án phí ngày 10/3/2008, chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/6/2008).

- Tại Bản án số 212/2008/HSST ngày 18/11/2008, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xử phạt 15 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân và Trộm cắp tài sản (trị giá 630.000 đồng), (Nộp án phí ngày 05/2/2009, chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/9/2009).

- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 68 ngày 26/02/2010, Công an TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương xử phạt về hành vi trộm cắp tài sản bằng hình thức phạt tiền 350.000 đồng (Nộp tiền ngày 26/02/3010).

- Tại Bản án số 259/2010/HSST ngày 21/12/2010, Tòa án nhân dân TP Hải Dương xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Trị giá tài sản 1.750.000 đồng), (Nộp án phí và tiền tịch thu ngày 24/9/2012, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/6/2011).

- Tại Bản án số 183/2012/HSST ngày 02/10/2012, Tòa án nhân dân TP Hải Dương xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Trị giá tài sản 1.125.000đ), (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/6/2013, nộp án phí ngày 20/5/2013).

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/6/2021, sau đó chuyển tạm giam đến nay tại trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương (có mặt tại phiên toà).

* Bị hại: Chị Trịnh Thị H, sinh năm 1964; Nơi cư trú: Số 5/58 LHP, P. N, TP. H, tỉnh Hải Dương (có mặt tại phiên toà).

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Đỗ Thị N, sinh năm 1954; Địa chỉ: Số 5/60/293 N, P. B, TP. H, Hải Dương (vắng mặt tại phiên toà).

* Người làm chứng:

- Anh Đỗ Đức H, sinh năm 1990; Địa chỉ: Khu X, P. K, TP. H, Hải Dương (vắng mặt tại phiên toà).

- Anh Nguyễn Xuân H, sinh năm 1994; Địa chỉ: Khu X, P. N, TP.H, Hải Dương (vắng mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 20 giờ ngày 09/06/2021, Bùi Quý H điều khiển xe đạp điện màu đỏ đen, số khung: DY18260602000xx đi quanh TP H xem ai có tài sản sơ hở thì trộm cắp. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, H đi đến trước nhà số 05/58 LHP, phường N, TP. H thấy cổng không khóa, trong sân để chiếc xe máy điện nhãn hiệu Momentum electric bicycles 133, màu đỏ đen, không đeo biển số, số khung: 15MD1033xx của chị Trịnh Thị H, SN: 1964, lúc này chị H đang nằm xe ti vi không để ý, thấy có sơ hở nên H nảy sinh mục đích trộm cắp chiếc xe trên. H điều khiển xe đạp điện ra cất giấu ở khu vực ngõ 61 HT rồi đi bộ quay lại vào sân nhà chị H dong chiếc xe máy điện của chị H ra đến cổng thì chị H cùng quần chúng nhân dân phát hiện đuổi theo, đến khu vực ngã ba giao cắt giữa ngõ 58 LHP và đường HT, Phường N, TP. H, H bỏ xe lại chạy tiếp, đến đoạn đầu ngõ 68 LHP, TP H thì bị nhân dân bắt giữ.

Tại Kết luận định giá số 48 ngày 25/6/2021, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân TP Hải Dương kết luận: Giá trị 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu Momentum electric bicycles 133, màu đỏ đen là 3.187.500 đồng.

Về vật chứng và trách nhiệm dân sự: Ngày 12/9/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Hải Dương trả lại chiếc xe máy điện hiệu Momentum electric bicycles 133, màu đỏ đen cho chị H. Chị H nhận tài sản không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự. Đối với chiếc xe đạp điện màu đỏ đen, số khung: DY18260602000xx quá trình điều tra xác định chiếc xe đạp điện này là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của bà Đỗ Thị N- mẹ đẻ bị cáo. Bà N cho H mượn, không biết việc H sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Hải Dương trả lại chiếc xe trên cho bà Đỗ Thị N.

Vụ thứ hai: Bùi Quý H là người sử dụng ma túy (loại Heroine), khoảng 06 giờ 15 phút ngày 21/6/2021 H đi bộ ra khu vực phố XĐ, thành phố H tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây H mua của một người đàn ông tên T (không xác định được họ, địa chỉ) 01 gói ma túy loại Heroine với số tiền 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy H cầm ở tay trái rồi đi tìm nơi để sử dụng. Đến khoảng 06 giờ 40 phút cùng ngày, khi H đi bộ đến khu vực trước cửa số nhà 5D phố ĐX, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương thì bị Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an TP Hải Dương kiểm tra, H thả gói ma túy xuống đất. Thu giữ tại vị trí dưới chân H đang đứng 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ, kích thước (0,5x1) cm bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng, H khai nhận là Heroine cất giấu để sử dụng trước sự chứng kiến của anh Đỗ Đức H, sinh năm 1990, ĐKTT: MT, huyện TN, TP Hải Phòng và anh Nguyễn Xuân H, sinh năm 1994, ĐKTT: Khu 4, phường N, TP H.

Tại Kết luận giám định số 343 ngày 23/6/2021, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất bột (dạng cục) màu trắng trong gói giấy được niêm phong trong phong bì ghi thu của Bùi Quý H gửi đến giám định khối lượng là: 0,166 gam là ma túy, loại Heroine.

Tại bản cáo trạng số 151/CT-VKSTPHD ngày 14/10/2021, Viện kiểm sát nhân dân (viết tắt là VKSND) thành phố Hải Dương truy tố Bùi Quý H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ Luật hình sự và tội Trộm cắp tài sản quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Bị cáo Bùi Quý H khai nhận hành vi như tại giai đoạn điều tra và truy tố.

- Đại diện VKSND thành phố Hải Dương giữ quyền công tố tại phiên tòa xác định Bản án số 15/2012/HSST ngày 16/02/2012 của Tòa án nhân dân TP. Hải Dương chưa được xoá án tích và tính là tiền án với bị cáo. Các nội dung khác đại diện VKSND giữ nguyên như quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Quý H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ Luật hình sự và tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Xử phạt H từ 05 năm 03 tháng đến 05 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý và từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội bị cáo H phải chấp hành từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 21/6/2021. Ngoài ra đại diện VKSND còn đề nghị xử lý vật chứng, án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan điều tra, truy tố trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của bị hại và những người tham gia tố tụng khác, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận định giá tài sản, kết luận giám định, vật chứng thu giữ và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Cho nên có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 09/6/2021, tại số 5/58 LHP, phường N, TP H, tỉnh Hải Dương, Bùi Quý H lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu Momentum electric bicycles 133, màu đỏ đen của chị Trịnh Thị H, trị giá tài sản chiếm đoạt 3.187.000 đồng.

Khoảng 06 giờ 40 phút, ngày 21/6/2021, tại trước cửa số nhà 5D phố ĐX, phường T, TP H, tỉnh Hải Dương, Bùi Quý H có hành vi cất giấu trái phép 0,166 gam Heroine để sử dụng thì bị Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Bị cáo là đối tượng có 03 tiền án: Bản án số 15/2012/HSST ngày 16/02/2012, bị cáo bị phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/8/2012, nộp án phí ngày 20/5/2013, đến nay chưa thi hành phần bồi thường dân sự; Bản án số 140/2016/HSST ngày 27/9/2016, bị cáo bị phạt 27 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, nộp án phí ngày 13/4/2017 và chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/7/2018; Bản án số 150/2019/HS-ST ngày 26/9/2019, bị cáo bị phạt 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/12/2020. Căn cứ khoản 2 Điều 70 và khoản 2 Điều 73 BLHS thì 03 bản án trên đều chưa được xoá. Bị cáo đã tái phạm, chưa được xoá án tích mà nay lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Do đó, hành vi trên của bị cáo Bùi Quý H cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép”, với cả hai tội đều phải chịu tình tiết định khung tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm”. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý, xâm phạm đến khách thể mà pháp luật hình sự bảo vệ. Nên bị cáo bị VKSND thành phố Hải Dương truy tố về các tội danh và điều luật áp dụng quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 và điểm o khoản 2 Điều 249 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Đối với tội trộm cắp tài sản, do giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt dưới 50 triệu đồng nhưng bị xét xử ở khoản 2 Điều 173 BLHS nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ gây thiệt hại không lớn quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 BLHS.

. Về hình phạt chính: Xét tính chất mức độ nguy hiểm hành vi, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, từng bị kết án nhiều lần về tội phạm chiếm đoạt tài sản và ma tuý. Bị cáo không hối cải nay tiếp tục phạm cùng lúc hai tội. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc và tổng hợp hình phạt của cả hai tội, bắt bị cáo chấp hành hình phạt chung theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 55 BLHS.

. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có tài sản riêng, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Trịnh Thị H đã nhận lại tài sản trộm cắp, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét giải quyết.

. Về xử lý vật chứng:

- Số ma túy hoàn lại sau giám định thu giữ của bị cáo H là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu cho tiêu hủy.

- Đối với chiếc xe đạp điện mà bị cáo sử dụng khi thực hiện hành vi trộm cắp là tài sản của bà Đỗ Thị N. Bà N không biết H sử dụng xe vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Hải Dương trả lại chiếc xe trên cho bà Đỗ Thị N là phù hợp.

[ 8]. Về các vấn đề khác: Bà Đỗ Thị N không biết H mượn xe đạp điện đi trộm cắp tài sản và không làm rõ được người bán trái phép chất ma túy cho H nên không có căn cứ để xử lý.

. Về án phí: Bị cáo H bị kết tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Về áp dụng pháp luật:

- Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173, điểm o khoản 2 Điều 249, điểm h (tội trộm cắp tài sản) và điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 55, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[2]. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Bùi Quý H phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

[3]. Về hình phạt chính:

Xử phạt bị cáo Bùi Quý H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tổng hợp hình phạt của cả hai tội, buộc bị cáo H chấp hành hình phạt chung là 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/6/2021.

[4]. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu, cho tiêu hủy số ma tuý hoàn lại sau giám định và 01 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ được niêm phong trong phong bì số 343/KLGĐ-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Hải Dương (Hiện, số vật chứng này do Chi cục thi hành án dân sự TP. Hải Dương đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 31/10/2021 giữa Công an thành phố Hải Dương và Chi cục thi hành án dân sự TP. Hải Dương).

[5]. Về án phí: Bị cáo H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo phần bản án liên quan, trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ