vanban.org

Bản án 164/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sóc Sơn, TP. Hà Nội Tuyên án 17/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁNNHÂN DÂN
HUYỆN SÓC SƠN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 164/2021/HS-ST
Ngày 17/11/2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Mậu Trường.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Sơn Tùng

Bà Trương Thị Thanh Nhàn

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên tòa: Ông Đào Xuân Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 161/2021/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 172/2021/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:

Trƣơng Văn T, sinh năm: 1971. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Yên S, xã X, huyện S, thành phố H; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trương Thế Mừng (đã chết); con bà: Nguyễn Thị Bình (đã chết); Vợ: Dương Thị H; Con: có 02 con (con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2014); tiền án, tiền sự: Năm 2006, Công an huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt hành chính về hành vi Đánh bạc; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/06/2021 đến nay. Có mặt.

* Ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Dương Thị H, sinh năm: 1980. Trú tại: Thôn Yên S, xã X, huyện S, thành phố H. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 06 giờ 30 phút, ngày 26/6/2021, Tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy phối hợp Công an thị trấn Sóc Sơn và Công an xã Trung Giã làm nhiệm vụ tại khu vực thôn Sông Công, xã Trung Giã, huyện Sóc Sơn đã tiến hành kiểm tra đối với Trương Văn T. Quá trình kiểm tra, Toản tự giác giao nộp tại túi áo ngực phía trước bên phải đang mặc 01 túi nilon kích thước 1,5x1,5cm bên trong chứa chất bột màu trắng. Toản tự khai nhận là ma túy loại heroin, vừa mua về để sử dụng. Cơ quan công an đã tạm giữ và niêm phong gói giấy trên theo đúng quy định của pháp luật. Ngoài ra còn tạm giữ của Toản 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 29T4-3690.

Quá trình điều tra làm rõ:

Khoảng 05 giờ 40 phút, ngày 26/6/2021, Toản điều khiển xe máy biển kiểm soát 29T4-3690 đi từ nhà đến khu vực xã Trung Thành, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên mục đích mua ma túy để sử dụng. Đến nơi, Toản gặp một người nam giới không quen biết ở rìa đường đặt vấn đề mua 100.000 đồng ma túy và nhận được 01 túi nilon chứa ma túy heroin. Mua được ma túy, Toản cất giấu ở túi áo ngực phải phía trước đang mặc và điều khiển xe máy đi về. Khi đến khu vực thôn Sông Công, xã Trung Giã, huyện Sóc Sơn thì bị cơ quan công an kiểm tra, phát hiện, thu giữ sau đó đưa người cùng tang vật về trụ sở công an lập biên bản xử lý.

Tại Kết luận giám định số 5268/KLGĐ-PC09 ngày 02/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại heroin, có khối lượng 0,137 gam.

Về tang, vật chứng: Quá trình điều tra, cơ quan công an đã thu giữ của Toản 01 túi nilon chứa ma túy loại heroin và 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 29T4-3690.

Đối với gói heroin thu giữ của Toản, sau khi lấy mẫu giám định, cơ quan giám định đã niêm phong lại và bàn giao cho Cơ quan điều tra. Hiện đang được lưu giữ tại kho vật chứng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sóc Sơn.

Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát 29T4-3690: Quá trình điều tra làm rõ chiếc xe máy trên là tài sản chung của bị cáo Toản và vợ là chị Dương Thị H. Chị H không biết việc Toản sử dụng chiếc xe máy của gia đình vào việc vi phạm pháp luật và đề nghị Cơ quan điều tra trả lại xe cho chị để sử dụng. Do đó, ngày 08/9/2021, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe máy trên cho chị H là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với người bán ma túy cho Toản: Do Toản không biết tên, tuổi, giới tính, địa chỉ, không biết đặc điểm người này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh làm r .

Quá trình điều tra, bị cáo Trương Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị can phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Bản cáo trạng số 151/CT-VKS ngày 01/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Trương Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố; bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh như Cáo trạng đã nêu, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử phạt Trương Văn T từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 26/06/2021.

Về vật chứng: tịch thu tiêu hủy 0,137 gam Heroin.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sóc Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện.

Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra; Biên bản thu giữ vật chứngvà các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 06 giờ 30 phút, tại thôn Sông Công, xã Trung Giã, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội Trương Văn T có hành vi Tàng trữ trái phép 0,137 gam Heroin mục đích để sử dụng, sau đó đã bị công an kiểm tra, phát hiện, bắt giữ và xử lý.

Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma” túy quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Điều luật quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

…

c) Heroin có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố Trương Văn T về tội Tàng trữ trái ph p chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sựlà có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất của vụ án: Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy; xâm hại trật tự, an toàn xã hội; ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển nòi giống con người. Tệ nạn ma túy không những làm suy kiệt đến kinh tế của mỗi gia đình mà còn là nguyên nhân gây ra các tội phạm nguy hiểm khác. Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm nhằm mục đích phục vụ cho nhu cầu sử dụng ma túy của cá nhân.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, hành vi phạm tội là nghiêm trọng, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ tác dụng trừng trị, cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự thì ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, x t bị cáo là đối tượng nghiện, quá trình xác minh tại địa phương thể hiện bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: đối với 0,137 gam Heroin cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình phạt:

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật hình sự: Tuyên bố: Trương Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáoTrƣơng Văn T 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 26/06/2021.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,137 gam Heroin (tình trạng vật chứng như Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/10/2021giữa Công an huyện Sóc Sơn và Chi cục thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự; Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu án phí Tòa án: Buộc bị cáophải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chỉ có quyền kháng cáo về phần liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình./.

Cỡ chữ