- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 23/12/2019, tại cây xăng Trảng Bom ở khu p…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Huyền T (Phù Thủy) phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 164/2020/HSST Ngày: 07/8/2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM – TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Quang Hoạch
Ông Vũ Xuân Tuất.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Đào Duy Mạnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tham gia phiên
tòa: Ông Phan Đăng Định - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 185/2020/TLST-HS ngày 21/7/2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 158/2020/QĐXXST-HS ngày 27/7/2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị Huyền T (Phù Thủy), sinh năm: 1985 tại Đồng Nai.
Hộ khẩu thường trú: Ấp Q, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam;
- Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Thiên chúa.
Trình độ học vấn: 3/12
- Nghề nghiệp: Không.
Con ông Nguyễn C, sinh năm: 1964 và bà Võ Thị M, sinh năm: 1958; chung sống như vợ chồng với anh Trần Minh C (không đăng ký kết hôn), có 03 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2017.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 30/9/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xử phạt 14 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/9/2009.
Ngày 23/10/2001, bị áp dụng biện pháp đưa vào Trường giáo dưỡng với thời hạn 24 tháng, đến ngày 31/10/2003 chấp hành xong.
Bị cáo tại ngoại.
- Bị hại: Công ty T
Địa chỉ: Khu phố 5, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện theo ủy quyền của Công ty: Anh Hoàng Minh Th, sinh năm: 1983.
Địa chỉ: Ấp 4, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm: 2001.
Địa chỉ: Khu phố 5, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
(bị cáo có mặt, các đương sự khác vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ ngày 23/12/2019, anh Nguyễn Ngọc T và anh Võ Triệu V là nhân viên bán xăng tại trạm xăng dầu Trảng Bom ở khu phố 5, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Đến khoảng 14 giờ 55 phút cùng ngày có xe ô tô của Công ty chở bia đến trạm xăng dầu để làm quà tặng khách hàng. Anh T để số tiền bán xăng vào trong hộc tủ sắt cạnh cây xăng và không khóa rồi đến bê bia vào phòng anh Hoàng Minh Th (quản lý cây xăng) các cây xăng khoảng 5m, còn anh V ở lại bán xăng. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Thị Huyền T điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) đến cây xăng để đổ xăng. Sau khi đổ xong, T phát hiện bên trong hộc tủ sắt có tiền nên nảy sinh ý định trộm cắp lấy tiền tiêu xài. T lợi dụng lúc anh V bán xăng cho khách không để ý, dùng tay trái thò vào hộc tủ lấy một phần tiền rồi điều khiển xe mô tô đi về hướng ngã tư bưu điện T để tẩu thoát. Sau đó T dừng xe lại đếm số tiền trộm cắp được 2.800.000 đồng (02 tờ mệnh giá 500.000 đồng, 18 tờ mệnh giá 100.000 đồng. Sau khi bê bia xong, anh T đến hộc tủ lấy tiền để tiếp tục bán xăng thì phát hiện bị mất tiền. Anh T báo anh Th đồng thời trích xuất camera tại cây xăng thì thấy khách mua xăng đã lấy trộm tiền và số tiền bị mất là 5.800.000 đồng. Anh T trình báo công an thị trấn Trảng Bom. Sau khi bị bắt T thừa nhận trộm cắp số tiền 2.800.000 đồng, không trộm cắp số tiền 5.800.000 đồng như anh Thơ trình báo.
Vật chứng thu giữ: 01 nón vải màu đen, 01 USB chứa nội dung hình ảnh T trộm cắp tại cây xăng, 02 thẻ nhớ chứa nội dung T thực hiện nghiệm hành vi trộm cắp tài sản.
Tại bản cáo trạng số 202/CT/VKS-TB ngày 17/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom truy tố bị cáo Nguyễn Thị Huyền T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 nón vải màu đen. 01 USB chứa nội dung hình ảnh bị cáo trộm cắp tại cây xăng, 02 thẻ nhớ chứa nội dung T thực hiện nghiệm hành vi trộm cắp tài sản chuyển theo hồ sơ vụ án.
Đối với xe mô tô không rõ biển số, nguồn gốc, bị cáo khai mua của một người không rõ nhân thân lai lịch và cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh truy tìm nhưng không thu hồi được.
Về dân sự: Bị cáo đã bồi thường số tiền 2.800.000 đồng cho Công ty và Công ty không yêu cầu gì thêm.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị xử phạt bị cáo T từ 06 tháng đến 08 tháng tù.
- Bị cáo T không tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung tại Cáo trạng đã nêu và bị cáo nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về sự vắng mặt của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt và đã có lời khai trong quá trình điều tra nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, tiến hành xét xử vắng mặt.
Về trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 23/12/2019, tại cây xăng Trảng Bom ở khu phố 5, thị trấn Trảng Bom, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Thị Huyền T có hành vi lén lút trộm cắp số tiền 2.800.000 đồng của Công ty T.
Như vậy, có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Huyền T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân, bị cáo đã từng bị xử phạt tù về tội “Cướp tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học nay lại tiếp tục hành vi trộm cắp tài sản nên phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo.
Tình tiết tăng nặng: Không.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 nón vải màu đen.
01 USB chứa nội dung hình ảnh bị cáo trộm cắp tại cây xăng, 02 thẻ nhớ chứa nội dung T thực hiện nghiệm hành vi trộm cắp tài sản chuyển theo hồ sơ vụ án.
Về dân sự: Bị cáo đã bồi thường và bị hại không yêu cầu gì thêm.
Nhận định của Đại diện viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Huyền T (Phù Thủy) phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Huyền T (Phù Thủy) 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị áp giải để chấp hành hình phạt tù.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng dân sự
Tịch thu tiêu hủy 01 nón vải màu đen (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/8/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Huyền T (Phù Thủy) phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện, VKSND tỉnh; - Công an huyện; - Chi cục thi hành án huyện; - Bị cáo; đương sự; - Nhà tạm giữ CA huyện; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hƣơng |