vanban.org

Bản án 164/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Tuyên án 05/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/02/2020. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải bồi thường cho bị hại Trần Nhựt L số tiền 57.000.000 đồng (năm mươi bảy triệu đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn V - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 164/2020/HS-ST
Ngày: 05-8-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Nhật Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Lâm.

Ông Thượng Văn Kịnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành ph Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Hai - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 151/2020/TLST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 164/2020/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn V, sinh năm 1982, tại Bạc Liêu. Nơi cư trú: Ấp 4, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị H; có vợ là Nguyễn Thị L và 01 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị bắt tạm giam ngày 29/02/2020 cho đến nay; có mặt.

Bị hại: Ông Trần Nhựt L, sinh năm 1982; địa chỉ: Ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1973; địa chỉ: Ấp 4, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; có mặt;

2. Ông Nguyễn Văn U, sinh năm 1986; địa chỉ: Ấp 4, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; có mặt.

Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị L, ông Lê Tấn B, ông Đặng Thanh T; tất cả vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

- Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Năm 2012, Nguyễn Văn V và bà Nguyễn Thị L chung sống với nhau như vợ chồng. Đến năm 2018, cả hai không còn chung sống với nhau nữa.

Khoảng 08 giờ ngày 19/9/2019, V điều khiển xe mô tô (không rõ hiệu xe và biển số) đi đến khu vực trước cổng Công ty TNHH Prominent (gọi tắt là công ty) thuộc Khu Công nghiệp Đồng An 2, phường Hòa Phú, thành phố Thủ Dầu Một để tìm bà L. V nhìn thấy ông Trần Nhựt L điều khiển xe mô tô biển số 67L2-304.XX chở bà L ngồi ở phía sau. V ghen tức nên điều khiển xe đuổi theo ông L. Trong lúc đuổi theo, V thấy 01 con dao bằng kim loại, dài khoảng 40 cm, rộng khoảng 07 cm đang để trên xe bán trái cây, bên lề đường không người coi giữ. V đi đến lấy con dao để lên ba ga trước xe rồi tiếp tục đuổi theo xe ông L.

Ông L chở bà L đến cổng công ty thì dừng lại. Bà L đi bộ vào bên trong công ty còn ông L đẩy xe vào cổng để bảo vệ ghi thẻ xe. Liền đó, V điều khiển xe mô tô chạy đến tông thẳng đầu xe của V vào đuôi xe của ông L làm cả hai xe ngã đổ. Tiếp đó, V dùng tay phải cầm lấy con dao trên ba ga xe xông tới chém 01 nhát vào bả vai trái của ông L. Ông Lê Tấn Bình và ông Đặng Thanh Truyền (bảo vệ công ty) chạy đến ngăn cản V nhưng không được. Ông L hoảng sợ chạy vào trong công ty thì V đuổi theo chém thêm 01 nhát vào má trái của ông L. Lúc này, ông Bình và ông Truyền xông đến khống chế V. Trong lúc hai bên giằng co thì con dao rơi xuống đất. V vùng thoát được và nhặt lại con dao rồi chạy đến chỗ bà L. Bà L bỏ chạy vào phía trong công ty. V cầm con dao và điều khiển xe chạy ra khỏi công ty. Ông L được bà L và nhiều công nhân khác sơ cứu vết thương và chờ xe đưa ông L đi cấp cứu. Lúc này, V đứng ngoài hàng rào công ty nhìn thấy nên V leo rào vào bên trong công ty và cầm dao xông tới chỗ ông L đang ngồi và chém 01 nhát về phía ông L nhưng ông L tránh được và bỏ chạy. Ngay lúc này, ông Bình chạy đến định khống chế V thì V leo hàng rào rồi cầm theo con dao và lên xe tẩu thoát. Trên đường bỏ chạy, V đã vứt bỏ con dao ở bãi đất trống (hiện không thu hồi được). Ông L được mọi người đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương từ ngày 19/9/2019 đến ngày 04/10/2019 thì xuất viện.

Ngày 23/9/2019, ông Trần Nhựt L có đơn yêu cầu giám định thương tích và khởi tố vụ án hình sự.

Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 519/2019/GĐPY ngày 12/11/2019 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Bình Dương kết luận:

- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại đối với bị hại Trần Nhựt L là 26% (hai mươi sáu phần trăm).

- Cơ chế hình thành vết thương:

+ Vết thương má trái: Chiều từ trên xuống chếch từ sau ra trước, hướng từ trái sang phải, bờ sắc gọn, khả năng do vật sắc gây ra.

+ Vết thương vùng bả vai trái: Sẹo hình vòng cung, chiều từ trên xuống, hướng từ sau ra trước, bờ sắc gọn, khả năng do vật sắc gây ra.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo V đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Quá trình điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến gì về hành vi phạm tội của bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi phạm tội của bị cáo V đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”.

-Về các vấn đề khác của vụ án:

Quá trình điều tra, ông L yêu cầu V bồi thường thiệt hại 70.000.000 đồng gồm: chi phí điều trị thương tích là 20.000.000 đồng; thu nhập bị mất trong thời gian 4 tháng nghỉ để điều trị bệnh là 40.000.000 đồng; chi phí ăn uống và chi phí đi lại trong thời gian điều trị bệnh là 10.000.000 đồng. Ngày 14/3/2020, bà Nguyễn Thị Liễu (chị ruột của V) bồi thường cho ông L 13.000.000 đồng. Hiện nay, ông L tiếp tục yêu cầu V bồi thường số tiền còn lại là 57.000.000 đồng.

Đối với 01 con dao bằng kim loại, dài khoảng 40 cm, bản rộng khoảng 07 cm, quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Thủ Dầu Một không thu hồi được con dao nói trên.

Đối với chiếc xe mô tô (không rõ hiệu xe và biển số) V làm phương tiện gây án do Nguyễn Văn Út (em ruột của V) sử dụng. Quá trình điều tra, ông Út không biết V mượn xe để làm phương tiện gây án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Thủ Dầu Một không thu hồi và xử lý đối với chiếc xe mô tô nói trên.

-Về trích dẫn cáo trạng của Viện kiểm sát:

Cáo trạng số 172/CT-VKS-HS ngày 16/6/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn V về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V mức hình phạt từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

+ Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường 70.000.000 đồng, gia đình bị cáo đã bồi thường 13.000.000 đồng. Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền còn lại là 57.000.000 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một.

Bị cáo Nguyễn Văn V không có ý kiến tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận: Khoảng 08 giờ ngày 19/9/2019, bị cáo V đã có hành vi sử dụng 01 con dao bằng kim loại chém vào bị hại Trần Nhựt L nhiều lần gây thương tích với tỷ lệ là 26%. Bị cáo sử dụng dao là hung khí nguy hiểm. Do đó, hành vi của bị cáo V thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo với tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo V là nguy hiểm cho xã hội. Về nhận thức, bị cáo V biết việc dùng dao gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xử bị cáo một mức án tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo V đã nhiều lần tấn công bị hại nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là cố ý thực hiện tội phạm đến cùng theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có cha được tặng thưởng huân chương, gia đình bị cáo bồi thường một phần thiệt hại theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét đề nghị của kiểm sát viên về mức hình phạt đối với bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về vật chứng của vụ án: Đối với con dao bằng kim loại bị cáo dùng để gây án, cơ quan điều tra không thu hồi được nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường 70.000.000 đồng. Gia đình bị cáo đã bồi thường 13.000.000 đồng. Bị hại tiếp tục yêu cầu bị cáo bồi thường 57.000.000 đồng và bị cáo đồng ý nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bị hại.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào các Điều 584, 585, 586, 590 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136, Điều 260 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/02/2020.

2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải bồi thường cho bị hại Trần Nhựt L số tiền 57.000.000 đồng (năm mươi bảy triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải chịu 200.000(hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 2.850.000 (hai triệu tám trăm năm mươi ngàn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

4. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ