vanban.org

Bản án 164/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận bà Dương Bích N với ông Nguyễn Văn Đ là vợ chồng.

Về nuôi con chung: Giao Nguyễn Thành Đ , sinh ngày 16/01/2015 cho bà Dương Bích N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Nguyễn Văn Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dương Bích Như - Nguyễn Văn Đởi"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận bà Dương Bích N với ông Nguyễn Văn Đ là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 164/2020/HNGĐ-ST
Ngày 09 - 7 - 2020
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Giang Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Thanh Văn

Ông Nguyễn Văn Hiển

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Mai là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

Ngày 09 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 240/2020/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 273/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Dương Bích N , sinh năm 1982; Cư trú tại: Ấp Kinh Giữa, xã Quách P , huyện Đ , tỉnh C (vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Đ , sinh năm 1977; Cư trú tại: Ấp Kinh Giữa, xã Quách P , huyện Đ , tỉnh C . (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/5/2020 trong qúa trình giải quyết nguyên đơn bà Dương Bích N trình bày:

Về hôn nhân: Bà N với ông Nguyễn Văn Đ kết hôn vào năm 2001, hôn nhân tự nguyện, không có đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống đến năm 2015 khi bà N sinh cháu Đ ở nhà chăm sóc con, ông Đ đi làm ăn và có quan hệ với người phụ nữ khác, không quan tâm chăm sóc vợ con, từ đó dẫn đến vợ chồng ly thân đến nay. Nay bà N xác định không còn tình cảm với ông Đ nên yêu cầu được ly hôn.

- Về nuôi con chung: Có 02 người con tên Nguyễn Bích C , sinh ngày 04/01/2002 và Nguyễn Thành Đ , sinh ngày 16/01/2015, hiện các con đang ở cùng bà. Khi ly hôn, bà N yêu cầu nuôi Thành Đ , không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu Bích C đã trưởng thành và không bị hạn chế về khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ: Bà N xác định không có.

Đối với bị đơn ông Nguyễn văn Đ : Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Đ theo quy định pháp luật, nhưng ông Đ không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà N .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Ông Đ là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia tố tụng nhưng ông Đ vắng mặt không có lý do. Vào ngày 16/5/2020 bà N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Đ và bà N .

Về hôn nhân. Bà N với ông Đ kết hôn vào năm 2001, hôn nhân tự nguyện, không đăng ký kết hôn và đến nay ông bà chưa đăng ký kết hôn theo quy định, do đó quan hệ hôn nhân của ông bà không có giá trị pháp lý theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.

Bà N yêu cầu ly hôn ông Đ với các lý do sau: Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, do ông Đ đi làm ăn và có quan hệ với người phụ nữ khác, không quan tâm chăm sóc vợ con. Nay, bà xác định không còn tình cảm với ông Đ nên yêu cầu được ly hôn với ông Đ . Do bà Như với ông Đ chung sống với nhau trong thời gian dài, mặc dù đủ điều kiện kết hôn nhưng ông bà không đăng ký kết hôn nên không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình không công nhận bà N với ông Đ là vợ chồng.

Về nuôi con chung: Tên Nguyễn Thành Đ , sinh ngày 16/01/2015, hiện cháu đang ở cùng bà. Khi ly hôn, bà N yêu cầu nuôi cháu Đ , không yêu cầu ông Đời cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử thấy rằng, tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình quy định “vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi con căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con...”. Viện dẫn từ điều luật trên thấy rằng, cháu Đ mới hơn 05 tuổi và từ khi anh chị ly thân đến nay cháu Đ do bà N chăm sóc, nuôi dưỡng ổn định và hiện cháu đang học mẫu giáo tại Trường mẫu giáo Quách Phẩm Bắc. Để không làm ảnh hưởng việc học của cháu, cũng như cần phải có sự trông nom, chăm sóc trực tiếp thường xuyên của cha hoặc mẹ nuôi dưỡng, giáo dục, đảm bảo sự phát triển lành mạnh về thể chất và tinh thần của cháu. Xuất phát từ lợi ích mọi mặt của cháu Đ , nên cần giao cháu Đ cho bà N tiếp tục nuôi dưỡng. Ông Đ i có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cấp dưỡng nuôi con bà N không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung và nợ: Bà N xác định không có.

Án phí dân sự sơ thẩm: Tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27, điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Như thuộc hộ cận nghèo và có đơn xin miễn án phí nên miễn án phí cho bà N .

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27, điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Không công nhận bà Dương Bích N với ông Nguyễn Văn Đ là vợ chồng.

2. Về nuôi con chung: Giao Nguyễn Thành Đ , sinh ngày 16/01/2015 cho bà Dương Bích N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Ông Nguyễn Văn Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét.

3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà N là hộ cận nghèo có đơn xin miễn án phí nên miễn án phí cho bà N .

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bà N , ông Đ có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ