vanban.org

Bản án 164/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 21/10/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/10/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Kh ng chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Mai X.

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị hại Nguyễn Hồng H. S a Bản án hình sự sơ th m số 10/2019/HS-ST ngày 30 tháng 5 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện B tỉnh Bình Dương như sau: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Mai X phạm tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi,…"
  • Tòa quyết gì? Kh ng chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Mai X.
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố t ng hình sự; Thông tư số 20/2014/TT-BYT Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thươ…; Điều 356 Bộ luật Tố t ng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 164/2019/HS-PT
Ngày: 21-10-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Đặng Văn Chum;

- Các Thẩm phán:

Ông Bùi Ngọc Thạch;

Ông Lê Quân Vương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 14 tháng 10 năm 2019 và 21 tháng 10 năm 2019 tại tr s Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương m phiên toà t phúc th m c ng khai v án hình sự th lý số 143/2019/TLPT-HS ngày 10 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo Võ Mai X. Do có kháng cáo của bị cáo Võ Mai X và bị hại bà Nguyễn Hồng H đối với Bản án hình sự sơ th m số 10/2019/HS-ST ngày 30 tháng 5 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện B tỉnh Bình Dương.

- Bị cáo có kháng cáo:

Võ Mai X sinh năm 1958 tại Đ; nơi cư trú: Ấp 1, xã T huyện Q tỉnh N; nghề nghiệp: bu n bán; trình độ học vấn: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ng Võ Mộc T (đã chết) và bà Nguyễn Thị N (đã chết); có chồng là Phan Quang T và 03 con; tiền án tiền sự: Kh ng; bị bắt tạm giam từ ngày 15-8-2017 đến ngày 10-01-2018 được thay đổi biện pháp ngăn chặn; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Bùi Gia N – Luật sư của Văn phòng Luật sư Bùi Gia N chi nhánh X thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.

- Bị hại có kháng cáo: Bà Nguyễn Hồng H sinh năm 1967; hộ kh u thường trú: Ấp Đ, xã H huyện V tỉnh T; nơi sinh sống: Khu phố 6 phường T, thị ã B tỉnh Bình Dương; có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Ông Bùi Văn T – Luật sư của Văn phòng Luật sư K thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Phan Quang T sinh năm 1960; nơi cư trú: Ấp 1, xã T huyện Q, tỉnh N; có mặt.

2. Ông Phan Trung P sinh năm 1993; nơi cư trú: Ấp 1, xã T huyện Q, tỉnh N; có mặt.

Người làm chứng:

1. Bà Lê Thị Hoàng Y sinh năm: 1970; nơi cư trú: Ấp 5 ã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; có mặt.

2. Bà Dương Thị Kim U sinh năm 1959; nơi cư trú: Tổ 1 ấp B, xã B, huyện B tỉnh Bình Dương; có yêu cầu t vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa nội dung v án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Võ Mai X và ông Phan Quang T là vợ chồng. Năm 2013, ông T làm bảo vệ cho Công ty Z thuộc ấp B, xã L huyện B tỉnh Bình Dương. Ông T trọ tại phòng số 12 nhà trọ của bà Dương Thị Kim U tại ấp B, xã L huyện B tỉnh Bình Dương. Trong thời gian làm tại đây ông T có quan hệ tình cảm với bà Nguyễn Hồng H (tên gọi khác: T, H Nguyễn Ngọc D). Khi biết được ng T có quan hệ tình cảm với H, bị cáo nảy sinh ý định đánh ghen. Ngày 14/8/2013, bị cáo đón e khách đến ấp B, xã L huyện B tỉnh Bình Dương theo dõi để bắt quả tang và đánh ghen. Ngày 17/8/2013, ông T nhờ bà H đến nấu ăn tại phòng trọ của ng T. Bị cáo biết được việc này nên chu n bị 01 chai nhựa chứa nước ớt để đánh ghen sau đó gọi điện thoại cho con ruột là Phan Trung P đến với m c đích sau khi bị cáo đánh ghen thì P lấy e của ng T ch bị cáo về.

Khoảng 19 giờ ngày 17/8/2013, bị cáo và ông P đến phòng trọ của ng T thì nhìn thấy ông T và bà H đang m nhau. Thấy vậy bị cáo ng vào phòng trọ của ng T, ông T đứng dậy cản bị cáo lại bà H đứng sau lưng ông T. Bị cáo lấy chai nhựa chứa nước ớt tạt vào mặt ông T sau đó kêu ông P lôi ông T ra ngoài. Ông P sợ ông T đánh bị cáo nên vào phòng thấy 01 con dao thái lan nền nhà liền nhặt đi đến chỗ chĩa dao về phía ông T rồi m ông T k o ra khỏi phòng. Lúc này trong phòng chỉ còn bị cáo và bà H, bị cáo cài chốt c a phòng lại dùng chai nhựa chứa nước ớt tạt vào mặt của bà H sau đó cả hai ng vào đánh nhau. Bị cáo lấy 01 cuộn băng keo màu vàng có trong phòng quấn quanh đầu cổ bà H. Bà H lấy hai tay chèn vào cổ để kh ng bị siết cổ. Bị cáo dùng vỏ chai bia bằng thủy tinh có trong phòng đánh vào đầu bà H làm cho vỏ chai bia bị bể bị cáo tiếp t c dùng mảnh vỡ chai bia có cạnh sắc nhọn đâm nhiều lần vào vùng mặt trái của bà H, bà H dùng khủy tay trái để đỡ nên bị thương tay. Riêng ng T giằng co kêu cứu và đạp c a phòng trọ làm c a phòng trọ bị móp. Sau khi gây thương tích cho bà H xong, bị cáo m c a phòng gọi ông P lấy chìa khóa e bóp tiền của ông T đi về. Lúc này ông P vẫn đang m ông T, nghe bị cáo gọi ông P buông ông T ra vào phòng lấy chìa khóa e và ví tiền của ng T, bị cáo lấy nhẫn cưới trên tay của ng T. Ông P điều khiển e m t biển số 60L9 – 6286 ch bị cáo về. Ông T nhặt khúc cây đuổi theo hù dọa đánh ông P và bị cáo. Bà H được ông Nguyễn Trọng I, C ng an viên ấp B, xã L ch đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa thị ã B.

Theo Bản kết luận giám định pháp y số 325/2016/GĐPY ngày 20/9/2016 của trung tâm giám định y khoa pháp y tỉnh D kết luận bị hại Nguyễn Hồng H bị thương tích như sau:

- Vết thương dọc má trái 7 0 1cm vết thương ngang má trái 5 0 1cm vết thương m i trên trái – má trái – dưới hàm trái 10 0 1cm vết thương gò má trái 2 0 1cm sẹo lành ảnh hư ng th m mỹ.

- Vết thương cánh tay trái 5 5 0 3cm cẳng tay trái 9 0 2 cm sẹo lành tốt.

Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 12% tạm thời.

* Cơ chế hình thành vết thương:

Các vết thương vùng mặt hình dạng phức tạp theo hình vòng cung vật gây thương tích có thể là:

- Nếu vật tác động nhiều lần: Có thể là vật sắc nhọn có thể có mũi nhọn.

- Nếu vật tác động một lần: Có thể là vật hình vòng cung phức tạp có nhiều mũi sắc nhọn. (ví d : võ chai bể...)

- Vết thương cánh tay trái cẳng tay trái bờ sắc có thể do vật sắc gây ra.

Vật chứng thu giữ:

- 01 cuộn băng keo màu vàng đã s d ng.

- 01 đoạn củi kh kích thước (1 25 0 05) m.

- 01 phần đầu cổ chai bia dài 13 5cm.

- Đối với 01 chai nhựa chứa nước ớt 01 con dao thái lan (kh ng rõ đặc điểm) ông P dùng uy hiếp ông T kh ng thu giữ được.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Hồng H yêu cầu bị cáo Võ Mai X bồi thường:

- Chi phí thuốc men điều trị 16.000.000 đồng;

- Chi phí thực tế bị mất 1.000.000 đồng 90 ngày = 90.000.000 đồng;

- Tiền bù đắp tinh thần: 50 tháng lương tối thiểu 1.300.000 đồng/tháng = 65.000.000 đồng;

- Chi phí phẫu thuật th m mỹ để óa sẹo 100.000.000 đồng;

- 01 sợi dây chuyền 18K trọng lượng 07 chỉ trị giá 17.920.000 đồng 01 sợi dây pha lê trị giá 22.000.000 đồng 01 nhẫn vàng 18K trọng lượng 03 chỉ trị giá 7.680.000 đồng 02 nhẫn vàng 24K trọng lượng 04 chỉ trị giá 14.680.000 đồng 1.000.000 đồng 700 đ la Mỹ quy đổi tiền Việt Nam là 16.450.000 đồng.

Tổng chi phí bà H yêu cầu bị cáo bồi thường là 350.730.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ th m số 10/2019/HS-ST ngày 30 tháng 5 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện B tỉnh Bình Dương đã quyết định:

1. Tuyên bố bị cáo Võ Mai X phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm e khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 s a đổi bổ sung năm 2017.

X phạt bị cáo Võ Mai X 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 15/8/2017 đến ngày 01/10/2018.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp d ng Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 s a đổi bổ sung năm 2017; Điều 590 Bộ luật dân sự 2015.

Buộc bị cáo Võ Mai X có trách nhiệm bồi thường tiền tổn thất tinh thần cho bị hại Nguyễn Hồng H là 14.868.000 đồng (mười bốn triệu tám trăm sáu mươi tám nghìn đồng).

Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa v chậm thi hành án

lý vật chứng án phí quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 30/5/2019 bị cáo Võ Mai X kháng toàn bộ bản án sơ th m bị cáo cho rằng bị cáo kh ng có tội.

Ngày 13/6/2019 và ngày 14/6/2019, bị hại Nguyễn Hồng H có đơn kháng cáo đồng thời ngày 18/6/2019 bị hại có đơn kháng cáo bổ sung về việc bỏ lọt tội phạm và tội danh “Cướp tài sản”; yêu cầu bồi thường thiệt hại và yêu cầu tăng mức hình phạt đối với bị cáo Võ Mai X.

Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương: Bị cáo và bị hại thực hiện quyền kháng cáo trong thời hạn luật định Tòa án nhân dân dân tỉnh Bình Dương đưa v án ra t phúc th m là đúng th m quyền đúng quy định của pháp luật. Về nội dung Tòa án cấp sơ th m t bị cáo Võ Mai X về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 s a đổi bổ sung năm 2017 là phù hợp với tính chất hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Vì vậy kh ng có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Đối với kháng cáo của bị hại về việc đề nghị hủy Bản án sơ th m số 10/2019/HSST ngày 30/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện B tỉnh Bình Dương để làm rõ hành vi phạm tội của bị cáo và đồng phạm. Nhận thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và bị hại kh ng có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng người tiến hành tố t ng. Hồ sơ v án đã được điều tra truy tố t theo đúng trình tự thủ t c tố t ng. Do đó, kháng cáo của bị hại về việc hủy bản án sơ th m để điều tra lại là kh ng có căn cứ chấp nhận.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm tranh luận: Kh ng đồng ý với bản luận tội của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương do chưa đủ chứng cứ chứng minh cho việc bị cáo phạm tội với các lý do sau:

- Lời khai của bị cáo là khách quan là đúng sự thật được thể hiện trong quá trình giằng co bị hại H cầm chai bia đánh bị cáo thì giẫm phải nước tương ớt nên trượt chân t khiến chai bia bị bể và tự ngã úp mặt lên mảnh vỡ chai bia dẫn đến bị hại tự gây thương tích cho mình. Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp lời khai tại (BL 125-141, 142-153, 299-302, 462-463); biên bản đối chất (BL 185-188); ý kiến bản giải trình khi nhận Kết luận điều tra Kết luận điều tra bổ sung (BL206, BL284); phù hợp với Hồ sơ bệnh án ban đầu (BL 22-32, BL 59-85); Kết quả khám nghiệm hiện trường; Bản ảnh hiện trường (BL11-12), Biên bản thực nghiệm điều tra (BL450-451), Bản ảnh thực nghiệm.

- Lời khai của bị hại kh ng phù hợp khách quan nên kh ng thuộc quy định về chứng cứ tại Điều 86 Bộ luật Tố t ng hình sự vì khi sự việc ảy ra trong phòng kín chỉ có bị cáo và bị hại bên ngoài có ông T và ông P đang giằng co chủ nhà trọ là bà U và ông I chỉ đến hiện trường khi bị hại đã có thương tích. Do đó kh ng có ai chứng kiến được sự việc. Căn cứ vào lời khai của bà U (BL250-251) và ông I (BL261a-261b, BL307-308) chứng tỏ kh ng có việc bị cáo trói bị hại nên bị cáo kh ng thể thoải mái dùng vỏ chai bia đâm bị hại đặc biệt càng kh ng thể rạch mặt bị hại với thương tích như Kết luận giám định đã m tả.

- Lời khai ban đầu của ng T là kh ng khách quan có sự th ng đồng trước với bị hại nhằm tránh tai tiếng quan hệ bất chính và bị kết tội vi phạm chế độ h n nhân một vợ một chồng với mong muốn đ y bị cáo vào tù để ng T và bị hại có cơ hội đến với nhau điều này được chứng minh qua đoạn ghi âm giữa ông T và bị hại (BL 263-272). Vì vậy căn cứ lời trình bày của bị cáo bị hại người có quyền lợi nghĩa v liên quan và người làm chứng là kh ng đủ chứng cứ để ác định bị cáo gây thương tích cho bị hại.

- Tòa án cấp sơ th m căn cứ vào lời khai thừa nhận tội của bị cáo tại (BL 127, BL 146-149) là trong khoảng thời gian bị cáo bị tạm giam là chứng cứ để buộc tội bị cáo là kh ng thuyết ph c. Tại lời khai này bị cáo thừa nhận “có dùng mảnh vỏ chai bị vỡ gây thương tích” nhưng cơ quan tố t ng kh ng chứng minh, cũng kh ng thu được mãnh vỡ đó có kích thước như thế nào. Nếu bị cáo có dùng mảnh chai bia để đâm rạch mặt và tay bị hại trong tư thế vật nhau thì bị cáo phải bị thương tích tay vì tác động ngược lại của mảnh vỡ nhưng bị cáo lại không có thương tích gì trên cơ thể. Cần phải hiểu thống nhất thế nào là “mảnh chai vỡ” thế nào là “cổ vỏ chai vỡ”. Tòa án cấp sơ th m nhận định cho rằng “mảnh chai vỡ” cũng là “cổ vỏ chai vỡ” vì mảnh chai bia vỡ hay cổ chai bia vỡ đều là mảnh vỡ từ chai bia bị bể là chưa triệt để chưa c thể hóa khi đánh giá cơ chế hình thành vết thương (BL562).

- Tòa án cấp sơ th m nhận định bị cáo đã s d ng phần đầu cổ chai bị vỡ bia đâm rạch nhiều cái vào vùng mặt trái tay trái của bị hại gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12% (tạm thời) là kh ng phản ánh đúng sự thật khách quan vì cần phải hiểu thế nào là “rạch” “đâm” cho đúng vì “rạch” sẽ tạo vết cắt dài và độ n ng đồng đều; còn “đâm” thì tạo vết thương sâu dạng lỗ nhưng trong hồ sơ Bệnh án Kết luận giám định thì khẳng định tác động rạch mới tạo ra thương tích. Ngoài ra, để rạch được những vết thương ngang dọc vào cùng một bên má của bị hại; đâm vào lưng ch m vào tay như lời khai của bị hại thì phải được thực hiện trong một thời gian dài bị hại đang trong tư thế bị khống chế tê liệt mất sức kháng cự hoàn toàn và hung khí gây thương tích phải là vật sắc nặng to bản. V việc này chỉ ảy ra chưa đầy 02 phút nhưng với 6 vết thương các vị trí khác nhau là điều kh ng thể ảy ra. Trong v án này vỏ chai bia bị bể chỉ với 2 nguyên nhân một là đập vào vùng ương ọ cứng nơi đầu bị hại hai là va đập uống nền hoặc tường phòng trọ hoặc vào bất kỳ vật cứng nào khác trong phòng trọ. Tuy nhiên hồ sơ v án ác định bị cáo đập vỏ chai bia vào đầu bị hại dẫn đến vỏ chai bị vỡ nhưng lại kh ng có thương tích trên đầu bị hại là kh ng đủ cơ s để buộc tội bị cáo.

- Vật chứng em t tại phiên tòa là phần đầu vỏ chai bia mà bị hại cơ quan tiến hành tố t ng cho rằng bị cáo dùng để đâm rạch vào mặt bị hại liên quan đến thương tích là kh ng phù hợp. Tại hiện trường Cơ quan Điều tra thu giữ có một phần đầu chai vỏ bia hiệu Sài gòn đỏ bị bể vỡ cạnh sắc nhọn từ phần đầu đến phần thân bể vỡ là 13 5cm. Quá trình điều tra bị cáo cho rằng bị hại cầm đánh bị cáo bị hại cho rằng bị cáo cầm đánh bị hại và đâm bị hại nhưng Cơ quan Điều tra chỉ thu giữ phần đầu vỏ chai còn lại nhưng kh ng tiến hành niêm phong kh ng ác định trên vỏ chai có dấu vân tay của ai và hiện tại kh ng thể khắc ph c nên kh ng đủ chứng cứ ác định bị cáo là người cầm chai bia bể này đồng nghĩa với việc bị cáo kh ng phải là người gây thương tích cho bị hại.

- Ngoài ra mối quan hệ bất chính giữa ng T và bị hại là nguyên nhân dẫn đến bị cáo bị kích động mạnh về tinh thần bị hại đã nhiều lần điện thoại ch i và thách thức bị cáo. Đỉnh điểm khi bị cáo đến bắt quả tang thì thấy ng T và bị hại đang âu yếm nhau bị hại còn thách thức bị cáo làm bị cáo mất kiểm soát về hành vi của mình làm tinh thần bị cáo bị kích động mạnh nên mới gây ra sự việc gây thương tích cho bị hại. Theo quy định Điều 135 Bộ luật Hình sự năm 2015 s a đổi bổ sung năm 2017 thì phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh thì tỷ lệ thương tật phải từ đủ 31% tr lên thì bị cáo mới phạm tội. Trong trường hợp này thương tích bị hại chỉ có 12% thì hành vi của bị cáo cũng kh ng phạm tội.

- Căn cứ hồ sơ bệnh án của Bệnh viện Đa khoa B hồ sơ bệnh án của Bệnh viện Đa khoa tỉnh D và Kết luận giám định của trung tâm pháp y tỉnh D qua đối chiếu Chương 9 Bảng 1 kèm theo Th ng tin số 20/2014/TT-BYT ngày 12/4/2014 của Bộ Y tế thì bị hại có 06 vết thương phần mềm cộng lại tỷ lệ tối đa thương tật của bị hại cũng kh ng quá 10%. Bị hại kh ng đồng ý với Kết luận giám định tại Biên bản hỏi cung ngày 03/01/2018 (Bl150-153) nhưng kh ng được Cơ quan điều tra giải thích quyền được yêu cầu giám định lại; quá trình điều tra kh ng làm rõ đặc tính đặc điểm vết thương phức tạp vùng mặt. Ngoài ra, Giấy chứng nhận thương tích của Bệnh viện đa khoa tỉnh D được cấp sau 02 năm kể từ khi ảy ra sự việc thì chắc chắn kh ng phải do sự việc đánh nhau giữa bị cáo và bị hại vào ngày 17/8/2013 hay bị hại bị thương tích nào khác gây ra. Do đó căn cứ vào Giấy chứng nhận thương tích của Bệnh viện Đa khoa tỉnh D để tiến hành giám định pháp y về thương tích là bất lợi cho bị cáo.

- Bản kết luận giám định pháp y kết luận cơ chế hình thành vết thương s d ng từ “có thể” là đánh giá tùy nghi, kh ng có kết luận dứt khoát để ác định đúng cơ chế hình thành vết thương nhưng Tòa án cấp sơ th m căn cứ vào Bản kết luận giám định pháp y để buộc tội bị cáo kh ng đủ căn cứ kh ng có cơ s cho việc tuyên bản án. Tại phiên tòa phúc th m Giám định viên thừa nhận không có không có bản ảnh ch p vết thương khi giám định cơ chế hình thành vết thương được nêu trong kết luận giám định là phỏng đoán kh ng dựa vào quy định pháp luật. Từ những phân tích nêu trên đề nghị Hội đồng t tuyên bị cáo kh ng phạm tội và kh ng phải là người gây ra thương tích cho bị hại. Do kh ng phạm tội nên bị cáo không có nghĩa v bồi thường về trách nhiệm dân sự.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trình bày quan điểm tranh luận: Thương tích trong Kết luận giám định pháp y là chứng cứ nếu bị cáo kh ng đồng ý thì yêu cầu cơ quan chuyên m n cao hơn giám định lại. Sự việc ảy ra bị cáo đã liên hệ con của mình là ng Phan Trung P đến để giúp sức cho bị cáo bị cáo đã chu n bị sẵn chai nước ớt cuồn băng keo đã bị tháo ra sẵn chứng minh cho việc bị cáo có một thời gian dài chu n bị trước cho hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo là mâu thuẫn và hoàn toàn không phù hợp nhằm che dấu đi hành vi phạm tội của mình. Lời khai bị hại là phù hợp là bị mất tài sản sau khi sự việc ảy ra. Sau thời gian dài, ông Phan Quang T thay đổi lời khai nhằm che dấu sự thật để gây bất lợi cho bị cáo đề nghị Hội đồng t

em t hủy Bản án hình sự sơ th m số 10/2019/HS-ST ngày 30 tháng 5 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện B tỉnh Bình Dương vì v án có dấu hiệu bỏ lọt tội danh “Cướp tài sản” bỏ lọt tội phạm trong việc đã cùng giúp sức hỗ trợ bị cáo một cách rất tích cực nhằm chiếm đoạt số tài sản của bị hại đồng thời tăng mức hình phạt đối với bị cáo để răn đe giáo d c. Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng t xem xét buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường về vật chất, tinh thần theo yêu cầu kháng cáo của bị hại.

Trong lời nói sau cùng bị cáo Võ Mai X không thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình mong Hội đồng t

em t chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa Hội đồng t nhận định như sau:

Ngày 17/8/2013 bị cáo Võ Mai X đến ấp B, xã L huyện B tỉnh Bình Dương theo dõi và đánh ghen. Trong lúc giằng co đánh nhau với bà Nguyễn Hồng H, bị cáo đã s d ng phần đầu cổ chai bị vỡ đâm rạch nhiều cái vào vùng mặt trái tay trái của bà H gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12% (tạm thời). Tại phiên tòa phúc th m bị cáo kh ng cung cấp tài liệu chứng cứ nào mới để Tòa án phúc th m xem xét thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

X t kháng cáo của bị cáo Võ Mai X kháng toàn bộ bản án sơ th m, bị cáo cho rằng bị cáo kh ng có tội: Căn cứ vào bản tự khai ban đầu do bị cáo tự viết (BL127) biên bản lấy lời khai của bị cáo (BL146-149), lời khai bị hại; lời khai ban đầu của người có quyền lợi nghĩa v liên quan đến v án ng Phan Quang T (BL215-217) lời khai chủ nhà trọ bà Dương Thị Kim U (BL248); biên bản khám nghiệm hiện trường biên bản thực nghiệm điều tra và vật chứng thu giữ tại hiện trường đồng thời đối chiếu với Kết luận giám định pháp y số 325/2016/GĐPY ngày 20/9/2016 của trung tâm giám định y khoa pháp y tỉnh D ác định cơ chế hình thành vết thương của bị hại là phù hợp với vật chứng thu giữ tại hiện trường là phần cổ chai bia bị vỡ. Đủ cơ s để ác định bị cáo dùng cổ chai bị vỡ gây thương tích cho bị hại. Bị cáo kháng cáo cho rằng bị cáo kh ng có tội là kh ng có cơ s em t. Vì vậy Tòa án cấp sơ th m t bị cáo Võ Mai X 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự 2015 s a đổi bổ sung năm 2017 là phù hợp.

Đối với ý kiến của người bào chữa cho rằng: Hồ sơ v án ác định bị cáo đập vỏ chai bia vào đầu bị hại dẫn đến vỏ chai bị vỡ nhưng lại kh ng có thương tích trên đầu bị hại là kh ng đủ cơ s để buộc tội bị cáo; bị hại cầm chai bia đánh bị cáo thì giẫm phải nước tương ớt nên trượt chân t khiến chai bia bị bể và tự ngã úp mặt lên mảnh vỡ chai bia dẫn đến bị hại tự gây thương tích cho mình; vật chứng là phần đầu vỏ chai bia mà bị hại cơ quan tiến hành tố t ng cho rằng bị cáo dùng để đâm rạch vào mặt bị hại là kh ng phù hợp đồng thời cho rằng chỉ căn cứ lời trình bày của bị cáo bị hại người có quyền lợi nghĩa v liên quan và người làm chứng là kh ng đủ chứng cứ và cơ s để buộc tội bị cáo và ác định bị cáo gây thương tích cho bị hại: Hội đồng t

t thấy, qua đối chiếu biên bản ác minh ngày 17/8/2013 (BL20) bị hại nhập viện cấp cứu trong tình trạng bị chấn thương đầu Bảng kê chi phí khám bệnh chữa bệnh nội trú của Bệnh viện Đa khoa tỉnh D ngày 11/10/2019 thể hiện bị hại uất viện trong tình trạng tổn thương n ng của da đầu biên bản hiện trường biên bản thực nghiệm điều tra vật chứng thu giữ tại hiện trường Giấy chứng nhận thương tích đồng thời đối chiếu với Kết luận giám định pháp y số 325/2016/GĐPY ngày 20/9/2016 của trung tâm giám định y khoa pháp y tỉnh D ác định cơ chế hình thành vết thương của bị hại là phù hợp với vật chứng thu giữ tại hiện trường là phần cổ chai bia bị vỡ vì vậy ý kiến của người bào chữa là kh ng có cơ s chấp nhận.

Xét ý kiến của người bào chữa cho rằng tỷ lệ tối đa thương tật của bị hại được tính ra kh ng quá 10%. Hội đồng t

t thấy đây thuộc lĩnh vực của cơ quan chuyên m n tại phiên tòa phúc th m Hội đồng t đã triệu tập Giám định viên và được nghe Giám định viên trình bày giải thích rõ cơ chế hình thành vết thương được nêu trong Kết luận giám định pháp y số 325/2016/GĐPY ngày 20/9/2016 là hoàn toàn phù hợp. Vì vậy ý kiến này của người bào chữa cũng kh ng có cơ s .

Đối với ý kiến nếu bị cáo là người gây ra thương tích cho bị hại thì thương tật chỉ có 12% thì hành vi của bị cáo cũng kh ng phạm tội vì bị cáo “phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”. Hội đồng t

t thấy, Tòa án cấp sơ th m đã em t và áp d ng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là “phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra” để đưa ra mức hình phạt là phù hợp với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó ý kiến này của người bào chữa kh ng có cơ s chấp nhận.

Ngoài ra người bào chữa cho bị cáo kh ng đồng ý với Bản kết luận giám định pháp y của trung tâm giám định y khoa pháp y tỉnh D cho rằng Kết luận giám định là phỏng đoán kh ng dựa vào quy định pháp luật đồng thời cho rằng quá trình điều tra bị cáo kh ng được Cơ quan điều tra giải thích quyền được yêu cầu giám định lại. Tuy nhiên, tại phiên tòa cấp sơ th m bị cáo và người bào chữa cho bị cáo cũng kh ng có yêu cầu giám định lại nên Hội đồng t phúc th m không xem xét.

X t kháng cáo của bị hại Nguyễn Hồng H về việc:

- Hủy bản án sơ th m vì bỏ lọt tội danh “Cướp tài sản” bỏ lọt tội phạm là ông Phan Trung P và một người khác nữa đã có hành vi dung dao thái lan hỗ trợ bị cáo một cách rất tích cực nhằm chiếm đoạt số tài sản của bị hại là 01 sợi dây chuyền 18K trọng lượng 07 chỉ trị giá 17.920.000 đồng 01 sợi dây pha lê trị giá 22.000.000 đồng 01 nhẫn vàng 18K trọng lượng 03 chỉ trị giá 7.680.000 đồng 02 nhẫn vàng 24K trọng lượng 04 chỉ trị giá 14.680.000 đồng 1.000.000 đồng 700 đ la Mỹ quy đổi tiền Việt Nam là 16.450.000 đồng, đồng thời bà H yêu cầu bị cáo cùng với đồng bọn phải bồi thường thiệt hại đối với tài sản bị mất. Ngày 15/10/2019 bị hại cung cấp cho Tòa án những hóa đơn mua vàng (03 bản chính và 1 bản ph t ) tại tiệm vàng Bảo P. Tuy nhiên căn cứ vào lời khai của người làm chứng bà Lê Thị Hoàng Y tại phiên tòa phúc th m bà Y khai kh ng biết gì về số tài sản bị hại bị mất chỉ nghe bị hại kể lại; lời khai của ng T tại phiên tòa phúc th m là trước khi ảy ra sự việc cũng kh ng thấy bị hại đeo vàng. Lời khai của bị cáo là điện thoại cho ông P với m c đích là đến lấy e máy ch bị cáo về lời khai của ng P là ôm ông T ra ngoài vì sợ ng T đánh bị cáo và cũng kh ng biết việc bị cáo đánh bị hại trong phòng. Do đó chưa đủ căn cứ để ác định hành vi của ông P là giúp sức cho bị cáo trong việc gây thương tích cho bị hại cũng kh ng có cơ s ác định bị cáo cùng với ng P chiếm đoạt số tài sản nêu trên của bị hại nên yêu cầu kháng cáo của bị hại cho rằng Tòa án cấp sơ th m bỏ lọt tội danh “Cướp tài sản”, bỏ lọt tội phạm và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản bị mất là kh ng có căn cứ.

- Đối với yêu cầu Tòa án phúc th m chấp nhận chi phí thực tế bị mất; tiền bù đắp tổn thất về tinh thần; chi phí phẫu thuật th m mỹ để óa sẹo. Tại phiên tòa phúc th m, bị hại cũng kh ng cung cấp được hóa đơn chứng từ để chứng minh cho việc điều trị và thực hiện phẫu thuật th m mỹ cũng không có giấy tờ chứng minh cho thu nhập hàng tháng trong việc kinh doanh nhà hàng. Vì vậy kh ng có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị hại đối với các chi phí nêu trên. Tuy nhiên Tòa án cấp sơ th m đã em t đầy đủ các tình tiết trong v án là do bị hại là người có lỗi trong sự việc ảy ra nên chấp nhận một phần tiền bù đắp tổn thất tinh thần cho bị hại là 12 tháng lương tối thiểu là 14.868.000 đồng là phù hợp.

- Đối với chi phí điều trị thuốc men tại phiên tòa phúc th m bị hại cung cấp cho Hội đồng t Bảng kê chi phí khám bệnh chữa bệnh nội trú của Bệnh viện Đa khoa tỉnh D ngày 11/10/2019 với tổng số tiền điều trị là 2.560.468 đồng. Hội đồng t

t thấy chi phí khám chữa bệnh này là có cơ s chấp nhận nên buộc bị cáo phải có trách nhiệm thanh toán cho bị hại số tiền 2.560.468 đồng.

- Đối với việc bị hại kháng cáo yêu cầu tăng mức hình phạt đối với bị cáo Võ Mai X: Căn cứ vào tính chất mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo cũng như tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Tòa án cấp sơ th m t bị cáo Võ Mai X về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự 2015 s a đổi bổ sung năm 2017 với mức án là 02 (hai) năm tù là đúng người đúng tội đúng pháp luật. Vì vậy bị hại kháng cáo yêu cầu tăng mức hình phạt đối với bị cáo là kh ng có cơ s xem xét.

X t ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại cho rằng v án có dấu hiệu bỏ lọt tội danh “Cướp tài sản” và bỏ lọt tội phạm đồng thời tăng mức hình phạt đối với bị cáo. Như đã phân tích đối với yêu cầu kháng cáo của bị hại Nguyễn Hồng H. Hội đồng t

t thấy, ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại cũng kh ng có cơ s chấp nhận.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về việc giải quyết v án là phù hợp với nhận định của Hội đồng t nên được chấp nhận.

Các phần khác của quyết định bản án sơ th m kh ng có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Về án phí dân sự sơ th m: Bị cáo Võ Mai X là người cao tuổi được miễn nộp án phí nhưng Tòa án cấp sơ th m buộc bị cáo phải chịu án phí dân sự sơ th m là kh ng đúng theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án nên cần s a bản án sơ th m về phần án phí.

Án phí hình sự phúc th m: Bị cáo Võ Mai X và bị hại Nguyễn Hồng H không phải nộp do bản án sơ th m bị s a.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355 Điều 356 và Điều 357 Bộ luật Tố t ng hình sự;

1. Kh ng chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Mai X.

2. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị hại Nguyễn Hồng H.

3. S a Bản án hình sự sơ th m số 10/2019/HS-ST ngày 30 tháng 5 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện B tỉnh Bình Dương như sau:

Áp d ng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm e khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 s a đổi bổ sung năm 2017.

X phạt bị cáo Võ Mai X 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 15/8/2017 đến ngày 01/10/2018.

4. Về trách nhiệm dân sự: Áp d ng Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 s a đổi bổ sung năm 2017; Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015.

Buộc bị cáo Võ Mai X có trách nhiệm bồi thường tiền tổn thất tinh thần; chi phí khám chữa bệnh cho bị hại Nguyễn Hồng H là 17.428.468 đồng (mười bảy triệu bốn trăm hai mươi tám nghìn bốn trăm sáu mươi tám đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án ong bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

5. Về án phí dân sự sơ th m và án phí dân sự phúc th m: Áp d ng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

Miễn án phí dân sự sơ th m và án phí dân sự phúc th m cho bị cáo Võ Mai X.

6. Về án phí hình sự phúc th m: Bị cáo Võ Mai X và bị hại Nguyễn Hồng H kh ng phải nộp.

7. Các phần khác của quyết định án sơ th m kh ng có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc th m có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ