- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức B phạm tội cướp giật tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 164 /2018/HS-ST Ngày 25/9/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Huệ
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Minh Mãi
Bà Đỗ Thị Sỹ Long
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Trần Mạnh Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 156/2018/TLST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử ngày 05 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Đức B; Sinh năm1990 tại thành phố H; HKTT và nơi ở: Thôn N, Xã L, Huyện Ư, thành phố H; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Đức T1 và bà: Đỗ Thị T2;Vợ : Bùi Thu G và có 01 con ; Tiền án, tiền sự : Năm 2012 đi cai nghiện bắt buộc 24 tháng ; năm 2016 đi cai nghiện bắt buộc 24 tháng về ngày 10/4/2018; tạm giam: 04/5/2018; Bị cáo tại ngoại ; Có mặt.
Ngưêi bÞ h¹i: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1988; ĐKTT: Xã N, Huyện T, Tỉnh H1 và nơi ở: Ngõ 58 T3, Quận C, thành phố H (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 8h30’ ngày 04/5/2018, Nguyễn Đức B điều khiển xe máy SYM BKS: 33R3 – 6992 đi trên đường C hướng từ Cầu Giấy đi Đ - K. Khi đến gần cổng Đại học giao thông Vận tải B phát hiện thấy chị Nguyễn Thị T ( SN: 1997, HKTT: Xã N, Huyện T, Tỉnh H1) điều khiển xe đạp đi phía trước, cùng chiều, trên giỏ xe đạp phía trước để 01 balo. Thấy sơ hở nên B nảy sinh ý định cướp giật tài sản, B điều khiển xe vượt lên bên phải xe đạp của chị T và dùng tay trái giật chiếc balô của chị T rồi tăng ga bỏ chạy về hướng Đ. Chị T hô hoán nên các anh Trần Đình Q (SN: 1981, HKTT: Cụm 7 T A, Đ P, thành phố H); anh Bùi Văn T3 (SN: 1988, HKTT: B, Th, thành phố H); anh Hoàng Trung H (Sinh năm: 1994, HKTT: 227B Tổ 40 H V T, H M, thành phố H) đang đi trên đường đuổi theo B đến đoạn trước cổng đài truyền hình Việt Nam số 43 Nguyễn Chí Th thì bắt giữ được B và bàn giao cho Công an phường N K
Tang vật thu giữ được gồm: 01 xe máy SYM, BKS: 33R3 – 6992, 01 điện thoại OPPO màu trắng của Nguyễn Đức Bản; 01 balo của chị Nguyễn Thị T, bên trong có: 01 ví nữ, 01 CMND mang tên Nguyễn Thị T, 01 di động Iphone 5s màu trắng, 2.530.000 đồng tiền mặt, 01 áo chống nắng, 01 mũ lưỡi trai bằng vải màu trắng, 02 quyển vở học sinh và 01 sổ tay ghi chép.
Bản Kết luận định giá tài sản số 60/ 26.5.2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Ba Đình kết luận: 01 Điện thoại di động Iphone 5S màu trắng đã qua sử dụng, số Imei 8808054869478 có giá trị: 2.000.000 đồng.
Đối với 01 chiếc balô, 01 ví da nữ, 01 áo chống nắng, 02 quyển vở và 01 sổ ghi chép là tang vật vụ án, do những tài sản này có giá trị không đáng kể nên chị T đã từ chối định giá.
Tại Cơ quan điều tra, bị can Nguyễn Đức B đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên. Lời khai của bị can phù hợp với lời khai của bị hại, nhân chứng và các tài liệu khác trong hồ sơ.
Về phần vật chứng, Cơ quan điều tra đã trao trả lại cho chị Nguyễn Thị T 01 balo, 01 ví nữ, 01 CMND mang tên Nguyễn Thị T, 01 di động Iphone 5s màu trắng, 2.530.000 đồng tiền mặt, 01 áo chống nắng, 01 mũ lưỡi trai bằng vải màu
2
trắng, 02 quyển vở học sinh và 01 sổ tay ghi chép. Chị T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì về dân sự.
Đối với 01 xe máy SYM màu đen BKS 33R3-6992 mà B dùng để sử dụng khi đi cướp giật, quá xác minh đây là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Đức T1 là bố của B. Ông T1 không biết B mượn xe để đi cướp giật tài sản. Cơ quan điều tra ra quyết định trả lại chiếc xe máy trên cho ông Nguyễn Đức T1.
Đối với 01 chiếc điện thoại OPPO màu trắng số Imei1: 869434027802256, số Imei2: 869434027802249 thu giữ của Nguyễn Đức B, Cơ quan điều tra chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình để đảm bảo thi hành án.
Bản cáo trạng số 158/CT-VKS ngày 16/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình đã truy tố: Nguyễn Đức B về tội Cướp giật tài sản theo quy định tại điểm d khoản 2 điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Đức B đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình trong phần luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng số 158/CT-VKS ngày 16/8/2018 và đề nghị áp dụng điểm d khoản 2 điều 171, điểm s khoản 1 điều 51, điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức B từ 36 tháng đến 48 tháng giam. Trả lại bị cáo 01 điện thoại OPPO mầu trắng đã qua sử dụng.
Lời nói sau cùng bị cáo Nguyễn Đức B đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ba Đình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và đại diện hợp pháp không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
3
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận tội, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, biên bản kết luận định giá tài sản, phù hợp với các biên bản, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập được.
Những chứng cứ trên đây đã có đủ cơ sở xác định: Khoảng 8 giờ 30’ ngày 04/5/2018, tại khu vực trước cổng trường Đại học Giao thông vận tải, thuộc phường Ngọc Khánh, Ba Đình, Nguyễn Đức B có hành vi điều khiển xe máy Cướp giật 01 balo bên trong có 01 điện thoại Iphone 5S, 2.350.000 đồng tiền mặt và một số tài sản khác của chị Nguyễn Thị T. Tổng trị giá tài sản là 4.350.000 đồng. Hành vi của bị cáo Nguyễn Đức B đã phạm tội cướp giật tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo dùng xe máy thực hiện hành vi cướp giật tài sản không những xâm phạm đến tài sản mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của con người được luật hình bảo vệ mà còn gây mất trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải đưa ra truy tố xét xử để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Khi lượng hình phạt xét bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình. Nhân bị cáo có 02 tiền sự về hành vi cai nghiện bắt buộc trong đó 01 tiền sự đã hết thời hiệu, 01 tiền sự cai nghiện bắt buộc vừa chở về địa phương được 10 ngày bị cáo lại tiếp tục phạm tội chứng tỏ bị cáo rất coi thường pháp luật. Vì vậy, cần thiết phải cánh ly ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Chiếc điện thoại OPPO mầu trắng không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
4
Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; Điểm s khoản 1 Điều 51; điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn,giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức B phạm tội cướp giật tài sản.
Xử phạt: Nguyễn Đức B 40 (bốn mươi) tháng tù . Thời hạn tù tính từ ngày 04/5/2018.
Trả lại bị cáo 01 điện thoại OPPO mầu trắng có số IMEI1: 869434027802256, số IMEI 2: 869434027802249 đã qua sử dụng không liên quan đến vụ án. Hiện đang thu giữ tại Chi cục thi hành án Quận Ba Đình ( biên bản giao nhận vật chứng số 162 ngày 16/8/2018)
Bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người bị hại (Nếu có); - Người bào chữa (Nếu có); - Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình; - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội; - Công an quận Ba Đình; - Trại tạm giam Công an thành phố Hà Nội; - Lưu hồ sơ, văn phòng. 5 | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Minh Huệ |