vanban.org

Bản án 164/2018/DSST — Tranh chấp quyền sử dụng đất

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp lối đi chung"
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 164/2018/DSST
Ngày: 08/5/2018
V/v: “Tranh chấp lối đi chung”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà V Th Thanh H ơng

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Th Ngọc;

2. Bà Nguyễn Ph ớc Trinh.

- Th ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Bùi Th Ngọc S ơng - Th ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Th ơng, Kiểm sát viên.

Trong ngày 04 tháng 5 năm 2018 và ngày 08 tháng 5 năm 2018, Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 68/2016/TLDS-ST ngày 01 tháng 02 năm 2016 về việc: “Tranh chấp lối đi chung” theo Quyết đ nh đ a vụ án ra xét xử số: 90/2018/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 3 năm 2018, Quyết đ nh hoãn phiên tòa số: 94/2018/QĐST-DS ngày 06 tháng 4 năm 2018, giữa các đ ơng sự:

- Nguyên đơn: Bà Hồng Ngọc D, sinh năm: 1957 (có mặt)

Hộ khẩu th ờng trú: Số 99/7 đ ờng Kênh 19/5, ph ờng S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đ a chỉ tạm trú: Đ ờng 419, tổ 5, ấp 6, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn:

+ Bà Đặng Th T, sinh năm: 1951 (vắng mặt)

Đ a chỉ: Số 34/12 đ ờng 419, tổ 5, ấp 6, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1969 (vắng mặt)

Đ a chỉ: Số 34/12 đ ờng 419, tổ 5, ấp 6, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Bùi Hữu L, sinh năm 1962 (có mặt)

Hộ khẩu th ờng trú: Số 99/7 đ ờng Kênh 19/5, ph ờng S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đ a chỉ tạm trú: Đ ờng 419, tổ 5, ấp 6, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Bà Nguyễn Th N, sinh năm: 1977 (vắng mặt)

Đ a chỉ: Số 34/12 đ ờng 419, tổ 5, ấp 6, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Bà Đặng Th C, sinh năm: 1939 (vắng mặt)

Đ a chỉ: Tổ 5, ấp 6, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Bà Nguyễn Kim P, sinh năm: 1954 (vắng mặt)

Đ a chỉ: Số 942 Quốc lộ 22, ấp B, xã T, huyện Củ C, Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Bà Cao Th M, sinh năm: 1935 (đã chết)

Đ a chỉ: Tổ 3, ấp 5, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Cao Thị M:

1. Nguyễn Th Xuân M, sinh năm: 1957 (vắng mặt)

Đ a chỉ: Số 489 Tỉnh lộ 8, tổ 3, ấp 5, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Nguyễn Cao T, sinh năm: 1964 (vắng mặt)

Đ a chỉ: Số 489 Tỉnh lộ 8, tổ 3, ấp 5, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Nguyễn Th Hồng H, sinh năm: 1967 (vắng mặt)

Đ a chỉ: Tổ 2, khu phố 5, th trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Nguyễn Cao T, sinh năm: 1968 (vắng mặt)

Đ a chỉ: Tổ 3, ấp 5, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

5. Nguyễn Th Hồng D, sinh năm: 1971 (vắng mặt)

Đ a chỉ: Tổ 3, ấp 5, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

6. Nguyễn Th Hồng H, sinh năm: 1972 (vắng mặt)

Đ a chỉ: Tổ 3, ấp 5, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

7. Nguyễn Cao H, sinh năm: 1974 (vắng mặt)

Đ a chỉ: Tổ 3, ấp 5, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn kh i kiện ngày 12/11/2013 và Bản tự khai ngày 12/11/2013, nguyên đơn bà Hồng Ngọc D trình bày sự việc nh sau:

Tháng 9/2010, qua mối quan hệ quen biết, ông Nguyễn Văn H đã giới thiệu bà nhận chuyển nh ợng từ bà Nguyễn Th P phần đất có diện tích 585m2 thuộc thửa 222 tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại xã Ph ớc Vĩnh An, huyện Củ Chi, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số: CH 00733 do Ủy ban nhân dân huyện Củ Chi cấp ngày 03/11/2010.

Vì phần đất của bà muốn ra đ ờng công cộng phải đi qua đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của gia đình ông H và mẹ là bà Đặng Th T (bà không rõ ai đứng tên chủ quyền sử dụng đất) nên ngày 06/10/2010, giữa bà với bà T, ông H có thỏa thuận nh sau:

- Đoạn 1, khoảng cách từ đ ờng công cộng cho đến phần đất tiếp giáp đất nhà bà (trụ xi măng), gia đình bà T, ông H đồng ý thỏa thuận 01 lối đi chung.

- Đoạn 2, khoảng cách từ phần đất tiếp giáp đất nhà bà (trụ xi măng) cho đến hết đất: Bà T, ông H đổi cho bà phần đất diện tích khoảng 78m2 (ngang 2m, dài 39,49m), còn bà thì đổi phần đất diện tích khoảng 65m2 (ngang 4,5m, dài 14m). Đồng thời, bà có nghĩa vụ bù thêm 30.000.000đ (ba m ơi triệu đồng). Cùng ngày, bà đã giao cho ông H số tiền 20.000.000đ (hai m ơi triệu đồng). Sau khi xác lập thỏa thuận, ông H đã tiến hành rào lại phần đất hoán đổi.

Một thời gian sau phát sinh tranh chấp, lúc đó bà mới biết phần đất mà gia đình ông H đã đổi cho bà theo cam kết ngày 06/10/2010 (đoạn 2) là của ng ời thứ 3, không thuộc quyền sử dụng hợp pháp của gia đình ông H. Sau khi biết sự việc trên, ông H đã hoàn trả cho bà số tiền 20.000.000đ (hai m ơi triệu đồng), nh ng không đồng ý trả phần đất đã hoán đổi hiện vẫn thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà.

Bà nhiều lần yêu cầu ông H phải có nghĩa vụ trả cho bà phần đất này nh ng họ không đồng ý, và sau mỗi lần nh thế, là họ lại cố ý rào đóng cổng rào (cổng rào tiếp giáp với đ ờng công cộng) gây khó khăn cho việc đi lại của gia đình bà.

Ngoài hộ gia đình bà, còn có hộ bà Cao Th M cùng đi chung với hộ gia đình bà tại con đ ờng nội bộ này.

Do có nhu cầu mua phần đất nhỏ để an d ỡng tuổi già, gia đình khó khăn nên mới mua đất với diện tích nhỏ. Sau này, mới phát hiện có con đ ờng nội bộ thuộc chủ quyền của gia đình ông H, bà T, (đoạn 1) phải đi hơn 20m mới đến lối đi ra đ ờng công cộng. Ngoài lối đi này, gia đình bà không còn con đ ờng nào khác.

Hiện tại do ông H đã rào lại phần đất hoán đổi thuộc GCNQSDĐ của bà, bà nhiều lần yêu cầu hoàn trả đất nh ng ông H không trả, mà viện lý do không cho bà đi bằng cách đóng cổng rào lại.

Nay bà kh i kiện yêu cầu buộc bà T và ông H:

- Phải trả lại cho bà phần đất có diện tích 65m2 (chiều ngang 4,5m, chiều dài 14m) thuộc thửa 222 tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại xã Ph ớc Vĩnh An, huyện Củ Chi theo GCNQSDĐ số CH00733 do Ủy ban nhân dân huyện Củ Chi cấp cho bà ngày 03/11/2010.

- M 01 lối đi chung qua bất động sản liền kề có diện tích khoảng 60m2 (chiều ngang khoảng 3m, chiều dài khoảng 20m) cùng tọa lạc tại xã Ph ớc Vĩnh An, huyện Củ Chi.

* Tại Biên bản không tiến hành hòa giải đ ợc ngày 15/11/2017 và tại phiên tòa, bà D trình bày:

Thông qua sự môi giới của ông Nguyễn Văn H, bà có nhận chuyển nh ợng quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Kim P, phần đất diện tích 585 m2 thuộc thửa đất số 222, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại xã Ph ớc Vĩnh An, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Giữa bà và bà P đã hoàn tất mọi thủ tục sang nh ợng và ngày 03/11/2010, bà đ ợc Ủy ban nhân dân huyện Củ Chi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC686294, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00733 cấp đứng tên bà Hồng Ngọc D và chồng bà là ông Bùi Hữu L. Phần đất này có nguồn gốc là của bà Đặng Th T (mẹ của ông H) chuyển nh ợng cho bà P, đất này chỉ có một lối ra đ ờng công cộng duy nhất là đi qua đất của bà T, chung lối đi ra với nhà bà T. Bà P từ khi mua đất của bà T đã sử dụng lối đi này. Ngày 06/10/2010, bà Đặng Th T, ông Nguyễn Văn H và vợ của ông H là bà Nguyễn Th N đã ký “Đơn xin thỏa thuận lối đi chung”, rằng họ đồng ý cho gia đình bà sử dụng phần đất thuộc quyền sử dụng của bà T để làm lối đi ra đ ờng 419, hình thể con đ ờng là từ ranh đất của bà ra đ ờng 419, chiều ngang con đ ờng là 03m. Giấy tờ mua bán xong, bà đã xây dựng nhà cấp 4 kiên cố và chuyển về sống trên đất, thời gian đầu gia đình bà vẫn sử dụng con đ ờng này bình th ờng, không có ai cản tr .

Giáp ranh đất của bà có một phần đất ngang khoảng 2m, dài khoảng 35m, ông H nói rằng đây là đất do bà T đứng tên, sử dụng để gia đình đi ra đồng ruộng, nh ng hiện không có nhu cầu sử dụng nên muốn bán lại cho bà. Vì muốn miếng đất của mình đẹp nên bà đồng ý hoán đổi, bà sẽ giao cho ông H phần đất khoảng 65 m2 nằm trong giấy đất của bà, giáp ranh với nhà ông H, ông H sẽ đổi lại cho bà phần đất ngang 2m, dài 35m, bà sẽ bù thêm cho ông Hơn 30.000.000đ (ba m ơi triệu đồng), hai bên có lập giấy cam kết ngày 06/10/2010. Bà đã đ a tr ớc 20.000.000đ (hai m ơi triệu đồng). Sau đó, ông H đã rào phần đất 65 m2 của bà, bà chuẩn b rào phần đất mua của ông H thì bà Cao Th M ngăn cản vì bà Một cho rằng đất này là của bà M. Từ đó, hai bên xảy ra tranh chấp, ông H đã trả lại cho bà số tiền 20.000.000 đồng nh ng không tháo d hàng rào trả lại đất cho bà, không những vậy gia đình ông H còn cản tr không cho gia đình bà đi lại trên con đ ờng qua đất nhà họ mà từ tr ớc bà đã sử dụng. Sau nhiều lần xã Ph ớc Vĩnh An hòa giải, ông H lại tiếp tục lừa bà ký Giấy thỏa thuận chuyển đổi đất ngày 27/5/2011, hoán đổi phần đất 65m2 của bà lấy con đ ờng đi 3m ra đ ờng giao thông của gia đình ông H, mà không thông báo với bà việc thỏa thuận giữa bà T với bà Cao Th M ngày 23/4/2002 về còn đ ờng đi chung này. Từ đó, bà không còn tin t ng vào gia đình bà T và ông H nữa, bà không đồng ý với thỏa thuận hoán đổi ngày 27/5/2011. Bà mua đất, đã đ ợc Nhà n ớc công nhận diện tích sử dụng hợp pháp, đất thì phải có lối đi ra đ ờng công cộng, lối đi này đã đ ợc sử dụng ổn đ nh từ bà Nguyễn Kim P. Ngày 06/10/2010, gia đình ông H c ng đã cam kết cho bà sử dụng lối đi này mà không có yêu cầu gì. Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, gia đình bà T đã tự nguyện trả lại cho bà phần đất 65m2 (qua đo vẽ thực tế là 74m2) nh ng vẫn tiếp tục cản tr gia đình bà đi lại trên con đ ờng đi chung bằng việc xây hàng rào B40 chắn ngang lối đi và khóa cổng nơi lối ra đ ờng 419. Gia đình bà T cản tr không cho gia đình bà đi lại trên con đ ờng từ ranh đất của bà ra đ ờng 419 là vi phạm pháp luật, vi phạm thỏa thuận của các bên ngày 06/10/2010.

Vì thế, bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc gia đình bà Đặng Th T, ông Nguyễn Văn H phải m lối đi chung có diện tích 106,4m2 từ ranh đất của bà ra đ ờng 419, tháo dỡ hàng rào chắn, m khóa cổng để gia đình bà đ ợc quyền sử dụng lối đi này, công nhận hiện trạng diện tích đất 106,4m2 là lối đi chung, đất thuộc thửa 223 tờ bản đồ số 7, (theo tài liệu đo năm 2003), tọa lạc tại ấp 6, xã Ph ớc Vĩnh An, huyện Củ Chi. Đối với phần đất diện tích 65m2 (đo đạc thực tế là 74m2) tr ớc đây gia đình ông H đã chiếm của bà nh ng nay đã trả lại, bà xin rút yêu cầu kh i kiện đối với phần đất này.

Tại phiên tòa, bà D xác đ nh hiện nay vợ chồng bà vẫn đang sinh sống trong căn nhà tọa lạc trên phần đất đã mua của bà P.

* Tại bản tự khai ngày 03/9/2014 và các biên bản làm việc, biên bản hòa giải, b đơn ông Nguyễn Văn H trình bày sự việc nh sau:

Tr ớc đây, mẹ ông là bà Đặng Th Th đã chuyển nh ợng cho bà Nguyễn Kim Ph một phần đất, vì nhầm lẫn trong đo đạc nên khi ra giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà P lại lấn qua đất của mẹ ông 65m2. Gia đình ông và bà P biết rõ điều này và hai bên thỏa thuận rằng, nếu bà P có chuyển nh ợng đất cho ng ời khác thì phải báo cho họ biết rằng phần đất 65m2 này là của bà T. Năm 2010, bà P chuyển nh ợng phần đất này cho bà D, bà P đã nói cho bà D biết phần đất 65m2 nằm trong giấy đất của bà P là của bà T, bà D đồng ý mua. Sau đó, gia đình ông đã rào phần đất 65m2 này lại. Vì thế, gia đình ông không đồng ý trả đất theo yêu cầu của bà D. Về lối đi chung mà bà D yêu cầu, hiện tại cả gia đình ông và gia đình bà D vẫn đi lại trên lối đi đó, gia đình ông không hề cản tr , toàn bộ phần đất là lối đi chung này hiện nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà T đứng tên. Ông không có ý kiến khác.

Tại giấy thỏa thuận đổi đất giữa ông Nguyễn Văn H và bà Hồng Ngọc D cùng ngụ ấp 6, xã Ph ớc Vĩnh An, huyện Củ Chi, hai bên thỏa thuận, ký tên tr ớc chứng kiến của Ban hòa giải của ấp là đúng. Lý do là thửa đất của ông đang sử dụng ch a tách ra khỏi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà D đứng tên. Bà D chỉ có phần đất bên trong, không có đ ờng đi lại, phần đất này ông đang sử dụng và làm hàng rào bao bọc hết. Phần đất của ông mà bà D khai là của bà D là bất hợp lý, bà D phải trả lại đất cho ông.

Ông xác nhận ông là ng ời môi giới cho bà Hồng Ngọc D mua đất của bà Nguyễn Kim P. Nguồn gốc đất tr ớc đây là của gia đình ông, gia đình ông đã chuyển nh ợng cho bà P, vì sơ suất khi ra giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên thừa mất của gia đình ông phần đất 65m2, ngang 4,5m và dài 12m. Vì không muốn rắc rối thủ tục nên thời điểm đó gia đình ông không yêu cầu bà P chỉnh sửa lại giấy đất. Bà Phụng có cam kết không xâm phạm vào phần đất 65m2 này và sau này nếu có bán đất cho ng ời khác thì bà P phải báo lại rằng diện tích đất 65m2 là của gia đình ông. Bà Hồng Ngọc D c ng có văn bản cam kết rằng đất này là của gia đình ông. Nh ng c ng lo sợ, nên khi bà P bán đất cho bà D, gia đình ông đã rào lại phần đất này, bà D và bà P không có ý kiến gì (hàng rào trụ bê tông, dây kẽm gai). Sau này, không biết bà D nghe lời ai mà đòi gia đình ông 65m2 đất này. Hai bên hòa giải nhiều lần tại Ủy ban nhân dân xã Ph ớc Vĩnh An và tiến tới lập biên bản thỏa thuận ngày 27/5/2011 với nội dung: 65m2 đất này là của nhà ông (vì sơ suất trong cấp giấy nên mới nằm trong giấy của bà P và sau này là giấy của bà D, ông L), đổi lại gia đình ông cho gia đình bà D sử dụng lối đi thuộc đất của gia đình ông.

Tại Biên bản làm việc ngày 23/9/2015 ông H trình bày: Theo đơn kh i kiện ngày 12/11/2013 của bà Hồng Ngọc D; đối với việc bà D yêu cầu gia đình ông m một lối đi chung qua bất động sản liền kề thì gia đình ông vẫn cho bà D đi trên lối đi chung của gia đình ông; đối với việc bà D yêu cầu gia đình ông trả lại phần đất có diện tích 65m2 thuộc thửa đất số 222, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại xã Ph ớc Vĩnh An, huyện Củ Chi thì ông không đồng ý vì phần đất này là của mẹ ông là bà T, ông yêu cầu bà D trả lại phần đất này cho bà T. Ông yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Hồng Ngọc D và ông Bùi Hữu L theo giấy vào sổ cấp giấy chứng nhận số CH00733 do Ủy ban nhân dân huyện Củ Chi cấp ngày 03/11/2010.

* Tại Bản tự khai ngày 19/5/2014, b đơn bà Đặng Th T trình bày sự việc nh sau:

Bà (Đặng Th T) có chuyển nh ợng phần đất cho bà P, tại thời điểm đó, bà P có đ a ra đề ngh là nếu sau này bà P cất nhà để thì gia đình bà sẽ cho bà P sử dụng lối đi chung với gia đình bà, đồng thời bà P sẽ trả lại cho gia đình bà phần đất 14m ngang, dài 4,5m. Sau đó, bà P không cất nhà, bà P đã bán lại phần đất này cho bà Hồng Ngọc D. Bà và con trai bà c ng đã nói rõ cho bà D biết về thỏa thuận giữa bà P và gia đình bà tr ớc đây. Bà D có làm tờ cam kết với con trai bà về thỏa thuận này. Nh ng sau khi gia đình bà cho bà D đi lại trên con đ ờng đi chung của gia đình bà, bà D đã không thực hiện đúng nh lời cam kết. Vì bà D không thực hiện đúng nh thỏa thuận nên gia đình bà sẽ dựng hàng rào, không cho bà D đi trên đất của bà.

* Tại Biên bản lấy lời khai ngày 29/01/2015 và tại phiên tòa, ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Hữu L trình bày sự việc nh sau:

Gia đình ông (Bùi Hữu L) tr ớc đây sống tại quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, thông qua môi giới là ông Nguyễn Văn H nên vợ chồng ông có nhận chuyển nh ợng quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Kim P, hai bên mua bán đã thực hiện xong các thủ tục và ra giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 585m2, thuộc thửa đất số 222, tờ bản đồ số 7 đứng tên Hồng Ngọc D và Bùi Hữu L. Thời điểm mua đất, đất này chỉ có một lối ra duy nhất là con đ ờng của nhà ông H, bà T. Gia đình ông mua đất để thì phải có đ ờng đi, phía gia đình ông H c ng đồng ý cho gia đình ông đi lại trên lối đi này. Sau khi mua đất, vợ chồng ông xây nhà xong, gia đình ông H tiến hành rào phần diện tích 65m2 thuộc giấy đất của vợ chồng ông và đổi lại ông H hứa bán phần đất ngang 2m, dài 35m theo giấy thỏa thuận ngày 06/10/2010, gia đình ông sẽ bù thêm cho ông H 20.000.000đ (hai m ơi triệu đồng), gia đình ông đã giao tr ớc cho ông H 10.000.000đ (m ời triệu đồng) và đồng ý cho ông H rào 65m2 đất. Ngay sau đó, bà Cao Th M cho biết phần đất ngang 2m, dài 35m là của bà M. Từ đó, giữa gia đình ông và gia đình ông H xảy ra tranh chấp. Ông H đã trả lại 10.000.000đ (m ời triệu đồng) đã nhận của gia đình ông nh ng không trả phần đất 65m2. Phần đất 65m2 vợ chồng ông đã nhận chuyển nh ợng hợp pháp từ bà P, ông H là ng ời môi giới nắm rõ quá trình mua bán, vợ chồng ông đã đ ợc Ủy ban nhân dân huyện Củ Chi cấp giấy đất, vì thế, ông yêu cầu ông H và bà T trả lại phần đất này.

Tại phiên tòa, ông L thống nhất với nội dung trình bày của vợ ông là bà Hồng Ngọc D, yêu cầu gia đình bà T, ông H m lối đi chung qua bất động sản liền kề, con đ ờng diện tích 106,4m2. Vì bà T, ông H đã trả lại vợ chồng phần đất 65m2 (đo đạc thực tế 74m2) nên vợ chồng ông rút yêu cầu đối với phần đất này.

* Tại Bản tự khai ngày 15/11/2017, bà Nguyễn Th Xuân M1 (là ng ời kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Cao Th M) trình bày sự việc nh sau:

Bà (Nguyễn Th Xuân M1) là con của bà Cao Th M và ông Nguyễn Văn B. Ông B mất năm 2004, bà Một mất năm 2014. Phần đất tọa lạc tại ấp 6, xã Ph ớc Vĩnh An, huyện Củ Chi hiện bà Đặng Th T đang đứng tên quyền sử dụng, nguồn gốc tr ớc giải phóng là của mẹ bà (Cao Th M). Bà Một cho gia đình bà T nhờ, sau đó bà T tự là thủ tục đăng ký quyền sử dụng. Ngày 23/4/2002, Ủy ban nhân dân xã Ph ớc Vĩnh An, huyện Củ Chi có lập biên bản thỏa thuận về việc giải quyết khiếu nại “xin đ ờng đi xuống ruộng” của bà Cao Th M với bà Đặng Th T, có nội dung: “Bà T để lại con đ ờng đi ngang 2m, dài hết đất từ lộ đỏ xuống ruộng, đ ờng này dùng để sử dụng đi chung không ai có quyền mua bán sang nh ợng”. Bà Hồng Ngọc D mua lại phần đất phía trong đất của bà T. Ông H tự ý bán cho bà D phần đất thuộc một phần con đ ờng theo thỏa thuận ngày 23/4/2002 thì bà M có ngăn cản nên việc mua bán không thành. Hiện nay, gia đình bà đã cho ng ời khác thuê lại phần ruộng phía trong đất của bà T nên c ng ít khi đi lại trên con đ ờng này. Theo gia đình bà đ ợc biết, nhà của bà D từ tr ớc đến nay chỉ có một lối ra đ ờng công cộng duy nhất là qua khu đất của bà T, thuộc một phần con đ ờng đi mà bà M đã thỏa thuận với bà T ngày 23/4/2002. Bà D yêu cầu bà T m lối đi chung ra đ ờng 419 là chính đáng vì thế gia đình bà đồng ý. Ngoài ra, gia đình bà không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì khác.

* Tại bài phát biểu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn bà Hồng Ngọc D, ng ời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn - Luật s Đoàn Th Thiên Thanh T - trình bày nh sau:

Bà Hồng Ngọc D có đơn kh i kiện đến Tòa án yêu cầu bà Đặng Th T và ông Nguyễn Văn H phải có nghĩa vụ m một lối đi chung qua bất động sản liền kề tọa lạc tại xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết, Tòa án có tiến hành đo vẽ và kiểm tra nội nghiệp với phần diện tích đất tranh chấp lối đi chung là khu 2-1, khu 2-2, thuộc thửa số 60-1, 59-1, diện tích là 106,4m2 (bản vẽ sơ đồ nhà đất của Công ty Phú Gia Th nh số 736/HĐ-PGT/2015, ngày 01/06/2017).

Thực trạng quyền sử dụng đất của bà Hồng Ngọc D b vây bọc b i các bất động sản liền kề là có thật, đây là nhu cầu bức thiết của một ng ời có quyền sử dụng đất nh ng không có lối ra đ ờng công cộng.

Quá trình giải quyết vụ án, bà T và ông H đóng cổng rào, bà D không còn lối đi nào khác, mọi việc phải đi nhờ qua nhà hàng xóm.

Kể từ khi bà D có đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời buộc m đ ờng đi chung thì những ng ời hàng xóm c ng không đồng ý cho bà D đi nhờ trên đất của họ.

Thêm nữa, biện pháp khẩn cấp tạm thời là buộc m đ ờng đi của cơ quan Thi hành án chỉ có hiệu lực vài tiếng đồng hồ thì bà T và ông H đã khóa cổng lại.

Căn cứ vào Điều 170 của Luật Đất đai năm 2013; các điều 11,14, 245, 246, 247, 248 của Bộ luật Dân sự năm 2015, đề ngh Hội đồng xét xử tuyên: Chấp nhận yêu cầu m lối đi chung qua bất động sản liền kề của nguyên đơn, buộc b đơn phải có nghĩa vụ m lối đi là khu 2-1, khu 2-2, thuộc thửa số 60-1, 59-1 (tài liệu 02/CT-UB), diện tích là 106,4m2 (bản vẽ sơ đồ nhà đất do Công ty Phú Gia Th nh lập, số hợp đồng: 736/HĐ-PGT/2015, ngày 01/6/2017).

* Đại diện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử vụ án, Th ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến tr ớc thời điểm Hội đồng xét xử ngh án: Ngoài việc vi phạm thời hạn chuẩn b xét xử đ ợc quy đ nh tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự thì từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán đ ợc phân công giải quyết vụ án c ng nh Hội đồng xét xử sơ thẩm và Th ký tại phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy đ nh của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của ng ời tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến tr ớc thời điểm Hội đồng xét xử ngh án: Ng ời tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy đ nh của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa xác đ nh:

Phần đất có diện tích 585m2, thuộc thửa đất số 92, tờ bản đồ số 13 (tài liệu 02/CT-UB) bộ đ a chính xã Ph ớc Vĩnh An, huyện Củ Chi, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 591/QSDĐ/CQ ngày 26/12/2002 do Ủy ban nhân dân huyện Củ Chi cấp cho bà Nguyễn Kim P, sinh năm 1954 ngụ ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên.

Thông qua sự giới thiệu của ông Nguyễn Văn H, vào ngày 04/9/2010, bà Nguyễn Kim P đã lập hợp đồng chuyển nh ợng toàn bộ phần đất diện tích nêu trên cho bà Hồng Ngọc D với giá 235.000.000đ (hai trăm ba m ơi lăm triệu đồng). Tại thời điểm chuyển nh ợng, bà D đã đặt cọc cho bà P số tiền 35.000.000đ (ba m ơi lăm triệu đồng), có sự chứng kiến của ông Nguyễn Văn H và ông Tr nh Thành N, đến ngày 04/10/2010, bà D đã thanh toán xong số tiền còn lại là 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng) cho bà P. Tại thời điểm nhận chuyển nh ợng, đất chỉ có một lối ra duy nhất là con đ ờng tr ớc nhà ông H, phía gia đình ông H đã đồng ý cho gia đình bà D đi lại trên lối đi này.

Ngày 03/11/2010, Ủy ban nhân dân huyện Củ Chi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC686294, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00733 cấp đứng tên bà Hồng Ngọc D và chồng là bà ông Bùi Hữu L.

Sau khi gia đình bà D xây dựng nhà xong thì gia đình ông H tiến hành rào phần đất có diện tích 65m2 (sau khi đo vẽ thực tế là 74m2) nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà D vì ông H hứa đổi phần đất có diện tích ngang 2m dài 35m theo giấy thỏa thuận ngày 06/10/2010, bà D sẽ bù thêm cho gia đình ông H số tiền là 30.000.000đ (ba m ơi triệu đồng), bà D đã đ a tr ớc 20.000.000đ (hai m ơi triệu đồng) nên bà D mới đồng ý cho gia đình ông H rào đất lại. Ngay sau đó, bà Cao Th M sinh năm 1935, ngụ tại tổ 3, ấp 5, xã P, huyện C cho biết phần đất ngang 2m dài 35m mà ông H hứa đổi cho bà D có nguồn gốc là của bà M nên bà D và gia đình ông H, bà T xảy ra tranh chấp, ông H đã trả lại cho bà D số tiền 20.000.000đ (hai m ơi triệu đồng), nh ng ông H, bà T không ch u trả cho bà D phần đất có diện tích 65m2 (sau khi đo vẽ thực tế là 74m2) nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà D.

Căn cứ vào lời trình bày của bà Cao Th M và nội dung Biên bản thỏa thuận lúc 09 giờ 00 ngày 23/4/2002 tại Ủy ban nhân dân xã Ph ớc Vĩnh An, huyện Củ Chi giữa bà Đặng Th T và bà Cao Th M, có sự chứng kiến của ông Võ Văn L là cán bộ đ a chính, ng ời ghi biên bản là ông Nguyễn Văn C (Ủy viên Ủy ban xã) xác đ nh phần đất bà D và bà T, ông H đang tranh chấp có nguồn gốc là của bà M. Tr ớc giải phóng, bà M cho bà T nhờ trên phần đất này, sau này bà M mới biết rằng bà T đã kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà M và bà T có tranh chấp. Ngày 23/4/2002, bà M và bà T có ký Giấy thỏa thuận với nội dung bà Đặng Th T chừa con đ ờng ngang 2m, dài từ ruộng của bà M tới đ ờng, giấy thỏa thuận đã lập vào ngày 23/4/2002. Con đ ờng này sử dụng làm lối đi chung, không ai đ ợc quyền bán hay sang nh ợng.

Căn cứ nội dung Đơn xin thỏa thuận lối đi chung ngày 06/10/2010 thì gia đình bà T, ông H hứa tình nguyện thỏa thuận lối đi chung từ ranh đất của gia đình thẳng tới ranh đất của gia đình bà D là ngang 3m.

Căn cứ Giấy thỏa thuận chuyển đổi đất giữa ông H và bà D vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 27/5/2011, có sự chứng kiến của chính quyền ban nhân dân ấp 6, xã Ph ớc Vĩnh An, huyện Củ Chi là ông Nguyễn Thái H thì bà D đồng ý đổi phần đất của bà là 65m2 (ngang 4,5m, dài 12m), phía bà Đặng Th T và con là ông nguyễn Văn H (tự Đ) đồng ý đổi cho bà D diện tích đất ngang 3m từ ranh giới đất của bà D đi thẳng ra đ ờng nhựa nông thôn phía tr ớc để làm lối đi chung giữa gia đình bà D và bà T.

Tại Đơn kh i kiện ngày 12/11/2013, bà D yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông H, bà T phải trả lại cho bà phần đất có diện tích 65m2 (sau khi đo đạc thực tế diện tích là 74m2) và yêu cầu bà T, ông H m một lối đi chung qua bất động sản liền kề có diện tích 60m2 (chiều ngang 03m x chiều dài 20m) tọa lạc tại xã Ph ớc Vĩnh An, huyện Củ Chi. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án bà T, ông H đã trả lại cho bà D phần đất có diện tích 74m2 vì thế bà D không yêu cầu đối với phần đất này nữa. Gia đình bà D chỉ có một lối đi duy nhất là qua phần đất tr ớc nhà của bà T, nh ng hiện nay bà T, ông H đã dựng hàng rào l ới B40, trụ xi măng kiên cố làm cho gia đình bà D không có lối đi.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết, Tòa án có tiến hành đo vẽ và kiểm tra nội nghiệp với phần diện tích đất tranh chấp lối đi chung là khu 2-1, khu 2-2, thuộc thửa số 60-1, 59-1, diện tích là 106,4m2 (bản vẽ sơ đồ nhà đất của Công ty Phú Gia Th nh số 736/HĐ-PGT/2015, ngày 01/06/2017).

Nh vậy, thông qua mối quan hệ quen biết, ông H đã giới thiệu cho bà D nhận chuyển nh ợng phần đất của bà P, phần đất có diện tích 585m2, thuộc thửa đất số 222, tờ bản đồ số 7, bộ đ a chính xã Ph ớc Vĩnh An, huyện Củ Chi, bà Dung đ ợc cấp giấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 03/11/2010. Tr ớc khi chuyển nh ợng quyền sử dụng đất cho bà D, bà T và ông H đã đồng ý chừa con đ ờng đi chung điểm xuất phát từ đ ờng công cộng đến phần đất chuyển nh ợng.

Ngày 06/10/2010, bà T và ông H đã có văn bản : “Đơn xin thỏa thuận lối đi chung” trong đó có nội dung: “Hứa sẽ tình nguyện thỏa thuận lối đi chung từ ranh đất của chúng tôi đến thẳng ranh đất của cô D là 03m”. Việc thỏa thuận này là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với đạo đức và pháp luật, là một quá trình nối tiếp thoả thuận lối đi chung mà tr ớc đây bà T, ông H đã thỏa thuận với bà P.

Thực trạng quyền sử dụng đất của bà D đang b vây bọc b i các bất động sản liền kề là có thật, nh ng hiện tại bà T và ông H đã rào lại lối đi chung làm cho gia đình bà D không có lối đi, ảnh h ng đến việc đi lại và sinh hoạt của gia đình bà D, đây là nhu cầu bức thiết của một ng ời có quyền sử dụng đất nh ng không có lối đi ra đ ờng công cộng.

Riêng phần đất có diện tích 41,2m2 thuộc một phần thửa đất số 59 (thửa phần chiết là 59-1) tờ bản đồ số 13 (theo tài liệu 02/CT-UB), bộ đ a chính xã Ph ớc Vĩnh An, huyện Củ Chi thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 327763, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số: 1762 QSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện Củ Chi cấp ngày 26/8/1998 cho bà Đặng Th C. Bà C đã làm thủ tục đo vẽ và cấp đổi thành Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 014292 ngày 01/7/2013, phần diện tích khi cấp đổi lại giấy chứng nhận của bà Đặng Th C đã trừ đi phần diện tích 41,2m2. Theo Bản vẽ sơ đồ nhà đất do Công ty TNHH T vấn Xây dựng - Th ơng mại - Đo đạc và Bản đồ Phú Gia Th nh lập vào ngày 01/6/2017 thì phần đất có diện tích 41,2m2 nêu trên thuộc thửa đất số 223 (thửa phân chiết 223-2) tờ bản đồ số 07, bộ đ a chính xã Ph ớc Vĩnh An, huyện Củ Chi. Hiện tại, phần đất này do gia đình bà Đặng Th T và con trai là ông Nguyễn Văn H quản lý, sử dụng. Do đó, dành quyền kh i kiện cho bà Đặng Th T, ông Nguyễn Văn H, bà Đặng Th C đối với bà Hồng Ngọc D trong một vụ kiện dân sự khác.

B i các lẽ trên, đề ngh Hội đồng xét xử tuyên:

Căn cứ Khoản 1 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm c Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 170 của Luật Đất đai năm 2013; các điều 11, 14, 245, 246, 247, 248 Bộ luật Dân sự năm 2015:

- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Hồng Ngọc D, buộc b đơn bà Đặng Th T và ông Nguyễn Văn H phải có nghĩa vụ m lối đi là khu 2-1, khu 2-2, thuộc thửa số 60-1, 59-1, diện tích là 106,4m2 (bản vẽ sơ đồ nhà đất của Công ty Phú Gia Th nh lập theo số hợp đồng: 736/HĐ-PGT/2015, ngày 01/6/2017).

- Buộc bà D, ông L phải đền bù cho bà T giá tr diện tích đất 65,2m2 thuộc thửa 223-1 tọa lạc tại ấp 6, xã Ph ớc Vĩnh An, huyện Củ Chi.

- Dành quyền kh i kiện phần đất có diện tích 41,2m2 thuộc thửa đất số 223(thửa phân chiết 223-2) tờ bản đồ 07, bộ đ a chính xã Ph ớc Vĩnh An, huyện Củ Chi cho bà Đặng Th T, ông Nguyễn Văn H và bà Đặng Th C đối với bà Hồng Ngọc D trong một vụ kiện dân sự khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đ ợc thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận đ nh:

- Về tố tụng:

Theo đơn kh i kiện của nguyên đơn bà Hồng Ngọc D, Tòa án nhân dân huyện Củ Chi đã thụ lý vụ kiện có mối quan hệ pháp luật tranh chấp là: “Tranh chấp lối đi chung” đ ợc quy đ nh tại Khoản 9 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Đất tranh chấp tọa lạc tại xã Ph ớc Vĩnh An, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Vì vậy, căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm c Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.

Tại phiên tòa, vắng mặt bà Đặng Th T nh ng bà T có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà T.

Tại phiên tòa, vắng mặt các đ ơng sự: Nguyễn Văn H, Nguyễn Th N, Đặng Th C, Nguyễn Kim P, Nguyễn Th Xuân M, Nguyễn Cao T, Nguyễn Th Hồng H, Nguyễn Cao Tr, Nguyễn Th Hồng D, Nguyễn Th Hồng H1, Nguyễn Cao H. Căn cứ Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đ ơng sự.

- Về nội dung:

Tại đơn kh i kiện ngày 12/11/2013, bà Hồng Ngọc D yêu cầu bà Đặng Th T và ông Nguyễn Văn H phải trả lại cho bà phần đất diện tích 65m2 (đo đạc thực tế 74m2), đất thuộc thửa 222 tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại xã Ph ớc Vĩnh An, huyện Củ Chi, theo GCNQSDĐ số: CH00733 do Ủy ban nhân dân huyện Củ Chi cấp cho bà D, ông L ngày 03/11/2010. Tuy nhiên, tại phiên tòa, bà D và ông L rút lại yêu cầu này, không yêu cầu Tòa án giải quyết vì bà T, ông H đã trả lại phần đất trên cho bà D và ông L nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này của bà D, ông L.

Xét yêu cầu của bà Hồng Ngọc D là đòi bà T, ông H phải m lối đi chung vào phần đất của vợ chồng bà, công nhận hiện trạng diện tích đất 106,4m2 là lối đi chung, đất thuộc một phần thửa 59, 60 tờ bản đồ số 13 (theo tài liệu đo năm 2003), tọa lạc tại ấp 6, xã Ph ớc Vĩnh An, huyện Củ Chi.

Hội đồng xét xử nhận đ nh:

Bà Hồng Ngọc D và ông Bùi Hữu L có nhận chuyển nh ợng từ bà Nguyễn Th P phần đất diện tích 585m2 thuộc thửa 222 tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại xã Ph ớc Vĩnh An, huyện Củ Chi. Ngày 03/11/2010, bà D và ông L đ ợc Ủy ban nhân dân huyện Củ Chi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH 00733. Bà D phát sinh tranh chấp là do bà T, ông H đóng cổng, rào kẻm gai, không cho bà D, ông L sử dụng lối đi vào nhà.

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện:

- Vào ngày 23/4/2002, bà Cao Th M và bà T có ký giấy thỏa thuận với nội dung bà T chừa con đ ờng ngang 2m, dài từ ruộng của bà M tới đ ờng. Con đ ờng này sử dụng làm lối đi chung, không ai đ ợc quyền bán hay sang nh ợng.

- Tại Đơn xin thỏa thuận lối đi chung vào ngày 06/10/2010 thì gia đình bà T, ông H hứa tình nguyện thỏa thuận lối đi chung từ ranh đất của gia đình thẳng tới ranh đất của gia đình bà D là ngang 3m.

- Tại Giấy thỏa thuận chuyển đổi đất giữa ông H và bà D vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 27/5/2011, có sự chứng kiến của Ban nhân dân ấp 6, xã Ph ớc Vĩnh An, huyện Củ Chi thì bà D đồng ý đổi phần đất của bà là 65m2 (ngang 4,5m, dài 12m), phía bà Đặng Th T và con là ông Nguyễn Văn H (tự Đ) đồng ý đổi cho bà D diện tích đất ngang 3m từ ranh giới đất của bà D đi thẳng ra đ ờng nhựa nông thôn phía tr ớc để làm lối đi chung giữa gia đình bà D và bà T.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, bà D xác đ nh phần diện tích đất tranh chấp là lối đi chung thuộc khu 2-1, khu 2-2, thuộc thửa số 60-1, 59-1, diện tích là 106,4m2 (bản vẽ sơ đồ nhà đất do Công ty TNHH T vấn xây dựng - Th ơng mại - Đo đạc và Bản đồ Phú Gia Th nh (viết tắt là Công ty Phú Gia Th nh) thực hiện, số 736/HĐ-PGT/2015, ngày 01/06/2017).

Thực trạng quyền sử dụng đất của bà D, ông L đang b vây bọc b i các bất động sản liền kề là có thật, nh ng hiện tại bà T, ông H đã rào lại lối đi chung làm cho gia đình bà D không có lối đi, ảnh h ng đến việc đi lại và sinh hoạt của gia đình bà D, đây là nhu cầu bức thiết của ng ời có quyền sử dụng đất nh ng không có lối đi ra đ ờng công cộng. Ngoài ra, theo kết quả xác minh cho thấy ngoài lối đi 106,4m2 nh đã nêu trên, bà D và ông L không còn lối đi nào khác.

Theo quy đ nh tại Điều 254 Bộ luật dân sự 2015 thì chủ s hữu có bất động sản b vây bọc b i các bất động sản của các chủ s hữu khác mà không có hoặc không đủ lối đi ra đ ờng công cộng thì có quyền yêu cầu chủ s hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ. Thực tế hiện nay bà D và chồng là ông L không có lối đi nào khác nên việc bà D yêu cầu m lối đi vào bất động sản của bà là hoàn toàn phù hợp, có cơ s chấp nhận. Hiện trạng lối đi tranh chấp có chiều ngang 3m, chiều dài một bên lối đi giáp thửa 181, chiều dài một bên giáp thửa 223, 224, tổng diện tích lối đi tranh chấp là 106,4m2. Hội đồng xét xử công nhận hiện trạng lối đi trên cho hộ bà T và hộ bà D sử dụng làm lối đi chung.

Tuy nhiên, theo quy đ nh tại Điều 254 Bộ luật dân sự năm 2015 thì chủ s hữu bất động sản h ng quyền về lối đi qua phải đền bù cho chủ s hữu bất động sản ch u h ng quyền, trừ tr ờng hợp có thỏa thuận khác. Nh vậy theo quy đ nh trên thì bà D, ông L phải đền bù cho chủ s hữu bất động sản một khoản tiền hợp lý, tức phải có trách nhiệm đền bù cho bà T giá tr ½ diện tích đất - lối đi tranh chấp nêu trên.

Theo biên bản đ nh giá ngày 30/3/2017 thì phần đất tranh chấp có giá tr 150.000đ/m2. Diện tích đất 65,2m2 thuộc thửa 223-1 tọa lạc tại ấp 6, xã Ph ớc Vĩnh An, huyện Củ Chi tính ra thành tiền là: 150.000đ/m2 x 65,2m2 = 9.780.000đ. Diện tích đất 65,2m2 hiện do bà T đang đứng tên quyền sử dụng nên bà D, ông L có trách nhiệm phải đền bù ½ giá tr đất cho bà T, thành tiền là 4.890.000đ (bốn triệu tám trăm chín m ơi nghìn đồng).

Còn đối với phần đất có diện tích 41,2m2 thuộc thửa 223-2 tờ bản đồ số 7 (theo tài liệu đo năm 2003) mặc dù hiện nay bà T, ông H đang trực tiếp quản lý sử dụng, nh ng theo các văn bản xác minh do Văn phòng đăng ký đất đai huyện Củ Chi và Ủy ban nhân dân xã Ph ớc Vĩnh An, huyện Củ Chi cung cấp thì phần đất 41,2m2 này có nguồn gốc tr ớc đây là của bà Đặng Th C nh ng sau đó, bà Chì không còn đứng tên quyền sử dụng đối với phần đất 41,2m2 này nữa và hiện nay, phần đất đó vẫn ch a có ai đứng tên quyền sử dụng. Do đó, Hội đồng xét xử dành quyền kh i kiện cho bà T, ông H, bà C đ ợc quyền kh i kiện bà D, ông L bằng một vụ án khác để yêu cầu bà D, ông L đền bù đối với phần đất 41,2m2 đ ợc sử dụng làm lối đi chung theo quy đ nh của pháp luật.

Cần buộc bà T và ông H có trách nhiệm m khóa cửa cổng sắt (cổng sắt cao khoảng 2,8m, rộng 03m), tọa lạc trên phần đất thuộc thửa 223, tờ bản đồ số 7 thuộc bộ đ a chính xã Ph ớc Vĩnh An, huyện Củ Chi để m lối đi ra đ ờng công cộng cho bà Hồng Ngọc D, ông Bùi Hữu L, v trí giữa số hiệu điểm 1 và 10 theo Bản vẽ sơ đồ nhà đất do Công ty Trách nhiệm hữu hạn T vấn Xây dựng - Th ơng Mại - Đo đạc và Bản đồ Phú Gia Th nh lập theo Hợp đồng số: 736/HĐ-PGT/2015;

Cần buộc bà T và ông H có trách nhiệm tháo dỡ hàng rào kẽm B40 do bà T, ông H rào để m lối đi ra đ ờng công cộng cho bà Hồng Ngọc D và ông Bùi Hữu L, hàng rào có chiều ngang 1,53m, tọa lạc trên phần đất thuộc thửa 223, tờ bản đồ số 7 thuộc bộ đ a chính xã Ph ớc Vĩnh An, huyện Củ Chi,v trí giữa số hiệu điểm 3 và 4 theo Bản vẽ sơ đồ nhà đất do Công ty Trách nhiệm hữu hạn T vấn Xây dựng - Th ơng Mại - Đo đạc và Bản đồ Phú Gia Th nh lập theo Hợp đồng số: 736/HĐ-PGT/2015,

Vì bà M đã chết, những ng ời kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà M (M, T, H, Tr, D, H1, H2) không có mặt khi xét xử vụ án. Tại bản tự khai ngày 15/11/2017, bà M xác đ nh gia đình bà đồng ý việc m lối đi chung theo yêu cầu của bà D, gia đình bà không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xét. Khi có yêu cầu, các con của bà M đ ợc quyền kh i kiện bằng một vụ án khác để yêu cầu giải quyết theo quy đ nh của pháp luật.

- Ông H có yêu cầu phản tố là đòi bà D phải trả lại cho ông diện tích đất 65m2 (đo đạc thực tế 74m2) mà bà D đang đứng tên quyền sử dụng. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập c ng nh tại phiên tòa hôm nay, ông H vẫn vắng mặt mà không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết đ nh đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của ông H. Số tiền tạm ứng án phí mà ông H đã nộp, sẽ đ ợc sung công quỹ Nhà n ớc.

Xét lời trình bày của ng ời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn đề ngh Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp.

Xét đề ngh của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi là có cơ s , phù hợp theo quy đ nh của pháp luật nên chấp nhận.

- Về chi phí cho việc đo đạc và đ nh giá tài sản, nguyên đơn tự nguyện ch u nên Hội đồng xét xử không xét.

Xét cần buộc bà D, ông L phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải thanh toán cho bà T; bà T, ông H phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch do yêu cầu của bà D đ ợc Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy đ nh tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Pháp lệnh số 10/2009/PL- UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban Th ờng vụ Quốc hội quy đ nh về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì caùc leõ treân;

QUYEÁT ÑÒNH:

- p dụng Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm c Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271, Khoản 1 Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- p dụng các điều 11, 14, 245, 246, 247, 248, 254 Bộ luật dân sự năm 2015;

- p dụng Điều 170 Luật đất đai năm 2013;

- p dụng Điều 6, 7, 26, 30, 31, 32 Luật Thi hành án dân sự năm 2008;

Tuyên xử:

1. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của nguyên đơn bà Hồng Ngọc D về việc yêu cầu bà Đặng Th T, ông Nguyễn Văn H phải trả lại cho bà D diện tích đất 65m2 (đo đạc thực tế 74m2), đất thuộc thửa 222 tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại xã Ph ớc Vĩnh An, huyện Củ Chi, theo GCNQSDĐ số: CH00733 do Ủy ban nhân dân huyện Củ Chi cấp cho bà D, ông L ngày 03/11/2010.

2. Chấp nhận yêu cầu của bà Hồng Ngọc D về việc yêu cầu m lối đi qua bất động sản liền kề.

- Công nhận hiện trạng lối đi có chiều ngang 3m, chiều dài giáp thửa 181 là 35,41m, chiều dài giáp thửa 223, 224 là 35,57m, tổng diện tích lối đi là 106,4m2, đất thuộc một phần thửa 223 tờ bản đồ số 7 thuộc bộ đ a chính xã Ph ớc Vĩnh An, huyện Củ Chi (theo Bản vẽ sơ đồ nhà đất do Công ty Trách nhiệm hữu hạn T vấn Xây dựng - Th ơng Mại - Đo đạc và Bản đồ Phú Gia Th nh lập theo Hợp đồng số: 736/HĐ-PGT/2015), là lối đi chung cho hộ bà T và hộ bà D, ông L.

- Buộc bà T và ông H phải m lối đi cho bà Hồng Ngọc D, lối đi có chiều ngang 3m, chiều dài giáp thửa 181 là 35,41m, chiều dài giáp thửa 223, 224 là 35,57m, tổng diện tích lối đi là 106,4m2, đất thuộc một phần thửa 223 tờ bản đồ số 7 thuộc bộ đ a chính xã Ph ớc Vĩnh An, huyện Củ Chi (theo Bản vẽ sơ đồ nhà đất do Công ty Trách nhiệm hữu hạn T vấn Xây dựng - Th ơng Mại - Đo đạc và Bản đồ Phú Gia Th nh lập theo Hợp đồng số: 736/HĐ-PGT/2015).

- Buộc bà Thân và ông Hơn có trách nhiệm m khóa cửa cổng sắt (cổng sắt cao khoảng 2,8m, rộng 03m), tọa lạc trên phần đất thuộc thửa 223, tờ bản đồ số 7 thuộc bộ đ a chính xã Ph ớc Vĩnh An, huyện Củ Chi để m lối đi ra đ ờng công cộng cho bà Dung, ông Long, v trí giữa số hiệu điểm 1 và 10 theo Bản vẽ sơ đồ nhà đất do Công ty Trách nhiệm hữu hạn T vấn Xây dựng - Th ơng Mại - Đo đạc và Bản đồ Phú Gia Th nh lập theo Hợp đồng số: 736/HĐ-PGT/2015;

- Buộc bà T và ông H có trách nhiệm tháo dỡ hàng rào kẽm B40 do bà T, ông H rào để m lối đi ra đ ờng công cộng cho bà D và ông L, hàng rào có chiều ngang 1,53m, tọa lạc trên phần đất thuộc thửa 223, tờ bản đồ số 7 thuộc bộ đ a chính xã Ph ớc Vĩnh An, huyện Củ Chi,v trí giữa số hiệu điểm 3 và 4 theo Bản vẽ sơ đồ nhà đất do Công ty Trách nhiệm hữu hạn T vấn Xây dựng - Th ơng Mại - Đo đạc và Bản đồ Phú Gia Th nh lập theo Hợp đồng số: 736/HĐ-PGT/2015.

- Bà D, ông L có trách nhiệm đền bù cho bà T ½ giá tr phần lối đi chung có diện tích 65,2m2, thuộc thửa 223-1 tờ bản đồ số 7 tọa lạc tại xã Ph ớc Vĩnh An, huyện Củ Chi là 4.890.000đ (bốn triệu tám trăm chín m ơi nghìn đồng) ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày bản án, quyết đ nh có hiệu lực pháp luật (đối với tr ờng hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết đ nh thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ng ời đ ợc thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho ng ời đ ợc thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải ch u khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy đ nh tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

- Dành quyền kh i kiện cho bà C, bà T, ông H, đ ợc quyền kh i kiện bà D, ông L bằng một vụ án khác để yêu cầu đền bù phần đất 41,2m2 thuộc thửa 223-2 tờ bản đồ số 7 tọa lạc tại xã Ph ớc Vĩnh An, huyện Củ Chi theo quy đ nh của pháp luật.

3. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn Hơn về việc đòi bà Hồng Ngọc D phải trả lại diện tích đất 65m2 (đo đạc thực tế 74m2) thuộc một phần thửa 222 tờ bản đồ số 7 tọa lạc tại xã Ph ớc Vĩnh An, huyện Củ Chi do bà D, ông L đang đứng tên quyền sử dụng.

4. Về án phí:

n phí dân sự sơ thẩm buộc bà D, ông L phải nộp là 244.500đ (hai trăm bốn m ơi bốn nghìn năm trăm đồng) nh ng đ ợc khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 750.000đ (bảy trăm năm m ơi nghìn đồng) theo biên lai 08371 ngày 18/11/2013 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi. Bà D đ ợc hoàn lại số tiền chênh lẹch là 505.500đ (năm trăm lẻ năm nghìn năm trăm đồng).

n phí dân sự sơ thẩm buộc bà Th, ông H phải nộp là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

Sung công quỹ Nhà n ớc số tiền tạm ứng án phí mà ông H đã nộp là 200.000đ (hai trăm năm nghìn đồng) theo biên lai 0001708 ngày 28/9/2015 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi.

Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

5. Các đ ơng sự có mặt tại phiên tòa đ ợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đ ơng sự vắng mặt đ ợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đ ợc bản sao bản án hoặc ngày bản án đ ợc niêm yết.

Tr ờng hợp bản án, quyết đ nh đ ợc thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ng ời đ ợc thi hành án dân sự, ng ời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b c ỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đ ợc thực hiện theo quy đ nh tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ