vanban.org

Bản án 164/2018/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị Hồng A. Buộc bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Trần Minh T có trách nhiệm liên đới trả cho bà A số tiền 108.

Đối với số tiền 37.000.000 đồng, buộc bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Trần Minh T trả cho bà A 1 lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Đối với số tiền 71.000.000 đồng, buộc bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Trần Minh T trả cho bà A theo kỳ góp hụi. Khi đến kỳ góp hụi của các dây hụi. Nếu bà Thúy A và… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "A - A, T"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị Hồng A. Buộc bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Trần Minh T có trách nhiệm liên đới trả cho bà A số tiền 108.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI BÈ
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 164/2018/DS-ST
Ngày: 12/9/2018
V/v tranh chấp “ Hợp đồng góp hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Trần Xuân Văn

Các Hội thẩm nhân dân:

1) Ông Mã Thanh Trung

2) Ông Trần Trung Nhân

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Ngọc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang

Ngày 12 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 312/2018/TLST-DS ngày 03 tháng 8 năm 2018 về tranh chấp hợp đồng góp hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 188/2018/QĐXX-ST ngày 29 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Mai Thị Hồng A; sinh năm 1984 (có mặt)

Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh T.

Bị đơn: 1/ Bà Nguyễn Thị Thúy A; sinh năm: 1991 (có mặt)

2/ Ông Trần Minh T, sinh năm: 1984 (vắng mặt)

Cùng Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 25/7/2018, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Mai Thị Hồng A trình bày: Vào năm 2017 vợ chồng bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Trần Minh T có tham gia tổng cộng 06 dây hụi do bà làm đầu thảo. Sau khi lĩnh hụi, vợ chồng bà A không góp lại cho bà các phần hụi đã lĩnh. Hiện còn nợ lại số tiền hụi cụ thể như sau:

Dây 1: Khui ngày 02/02/2017 âl, mức góp hụi 1.000.000 đồng/phần, hụi gồm 18 phần, bà A tham gia 02 phần, đã hốt hụi, còn nợ lại 02 kỳ chưa góp với số tiền 4.000.000 đồng.

Dây 2: Khui ngày 25/3/2017 âl, mức góp hụi 1.000.000 đồng/phần, hụi gồm 25 phần, bà A tham gia 02 phần, đã hốt hụi, còn nợ 02 kỳ chưa góp với số tiền 4.000.000 đồng và 11 kỳ chưa đến hạn góp với số tiền 18.000.000 đồng.

Dây 3: Khui ngày 10/4/2017 âl, mức góp hụi 1.000.000 đồng/phần, hụi gồm 22 phần, bà A tham gia 02 phần, đã hốt hụi, còn nợ 02 kỳ chưa góp với số tiền 4.000.000 đồng và 07 kỳ chưa đến hạn góp với số tiền là 14.000.000 đồng.

Dây 4: Khui ngày 25/6/2017 âl, mức góp hụi 1.000.000 đồng/phần, bà A tham gia 03 phần, đã hốt hụi, còn nợ lại 02 kỳ chưa góp với số tiền 6.000.000 đồng và 09 kỳ chưa đến hạn góp với số tiền 27.000.000 đồng.

Dây 5: Khui ngày 15/9/2017 âl, mức góp hụi 1.000.000 đồng/phần, bà A tham gia 01 phần, đã hốt hụi, còn nợ lại 02 kỳ chưa góp với số tiền 2.000.000 đồng và 14 kỳ chưa đến hạn góp với số tiền 14.000.000 đồng.

Dây 6: Khui ngày 20/8/2017 âl, mức góp hụi 1.000.000 đồng/phần, bà A tham gia 03 phần, đã hốt hụi, còn nợ lại 02 kỳ chưa góp với số tiền 6.000.000 đồng và 12 kỳ chưa đến hạn góp với số tiền 36.000.000 đồng.

Tổng cộng 06 dây hụi, bà A, ông T còn nợ bà 135.000.000 đồng. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà A chỉ yêu cầu bà A và ông T trả cho bà 108.000.000 đồng, trong đó yêu cầu trả cho bà 01 lần số tiền 37.000.000 đồng nợ hụi đã đến kỳ khui hụi nhưng chưa góp, đối với 71.000.000 đồng tiền hụi chưa đến kỳ góp yêu cầu bà A, ông T trả cho bà khi đến kỳ khui hụi.

Tại bản tự khai ngày 13/8/2018, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bị đơn bà Nguyễn Thị Thúy A trình bày: Bà thừa nhận có tham gia chơi các dây hụi như bà A trình bày. Hiện bà còn nợ bà Atổng cộng 108.000.000 đồng. Nay bà A đồng ý tự mình trả cho bà A108.000.000 đồng, xin trả dần mỗi tháng 500.000 đồng. Không đồng ý việc ông T liên đới trả cùng bà số nợ hụi trên.

Tại bản tự khai ngày 13/8/2018, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trần Minh T có bản khai trình bày: Ông là chồng của bà A. Việc bà A có giao dịch chơi hụi với bà A hay không, lấy số tiền trên chi tiêu vào mục đích gì ông đều không biết. Vì vậy ông không đồng ý trả tiền theo yêu cầu khởi kiện của bà A.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Mai Thị Hồng A yêu cầu bà A và ông T trả cho bà 108.000.000 đồng. Bị đơn bà A không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Quan hệ tranh chấp giữa bà Mai Thị Hồng A và bà Nguyễn Thị Thu A, ông Trần Minh T là quan hệ tranh chấp hợp đồng góp hụi thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn ông Trần Minh T có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Xét thấy yêu cầu của ông T là phù hợp với quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu giải quyết vắng mặt của ông T.

Tại phiên tòa, bà Mai Thị Hồng A có thay đổi so với yêu cầu khởi kiện ban đầu, cụ thể bà A yêu cầu buộc bà A và ông T cùng trả cho bà 108.000.000 đồng. Xét thấy việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của bà A là trên cơ sở tự nguyện, nội dung xin thay đổi nằm trong yêu cầu khởi kiện ban đầu, theo hướng có lợi cho phía bị đơn và phù hợp với quy định tại Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn bà A và ông T không có ý kiến gì đối với việc thay đổi yêu cầu của nguyên đơn nên yêu cầu của bà A là có cơ sở chấp nhận.

Xét yêu cầu khởi kiện của bà A về số tiền trả, hình thức trả và thời gian trả, Hội đồng xét xử nhận định: Tại phiên tòa, hai bên đã thống nhất về số dây hụi và số tiền trong giao dịch chơi hụi với nhau. Nguyên đơn bà A đã cung cấp được đầy đủ chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có cơ sở. Bị đơn bà A cũng đã thừa nhận số tiền còn nợ bà Alà 108.000.000 đồng. Như vậy có đủ cơ sở xác định giao dịch chơi hụi giữa bà A và bà A là có thật nên yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị Hồng A là có cơ sở chấp nhận.

Về hình thức trả và thời gian trả, bà A yêu cầu buộc bị đơn trả 01 lần số tiền 37.000.000 đồng nợ hụi mà vợ chồng bà A chưa góp và trả theo kỳ góp hụi đối với số tiền 71.000.000 đồng tiền hụi chưa đến kỳ góp là phù hợp với Điều 30 Nghị định 144/2006/NĐ – CP ngày 27 tháng 11 năm 2006 quy định về Họ, hụi, biêu phường nên yêu cầu của bà Alà có cơ sở chấp nhận.

Xét yêu cầu của bà A về việc buộc bà A và ông T liên đới trả số tiền 108.000.000 đồng. Hội đồng xét xử nhận định: Bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Trần Minh T là vợ chồng hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện C, tỉnh T. Hiện tại bà A và ông T vẫn còn đang chung sống. Từ khi đăng ký kết hôn đến nay, hai bên không có thỏa thuận nào về việc phân chia tài sản chung của vợ chồng. Các giao dịch hụi và giao dịch vay mượn tiền ông T đều biết và cũng đã cùng bà A trả cho bà A một phần số nợ hụi trên. Số tiền có được dùng để chơi hụi và trả nợ hụi xuất phát từ nguồn thu nhập dùng trong chi tiêu nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu thiết yếu trong gia đình, duy trì, phát triển khối tài sản chung của bà A và ông T. Vì vậy ông T phải có trách nhiệm liên đới đối với số nợ mà bà A gây ra theo quy định tại Khoản 2 Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình. Như vậy yêu cầu khởi kiện của bà A về việc buộc bà A và ông T cùng có trách nhiệm liên đới trả cho bà số tiền 108.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.

Xét yêu cầu của bà A về việc xin trả dần số tiền còn nợ cho bà A mỗi tháng 500.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy: Việc bà A nợ bà A số tiền trong thời gian dài, bà A đã nhiều lần yêu cầu trả nhưng vợ chồng bà A không thực hiện. Như vậy chứng tỏ bà A đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với bà A. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, phía bị đơn bà A không chứng minh được hoàn cảnh kinh tế hiện tại của mình đang gặp khó khăn, việc xin trả số tiền trên mỗi tháng 500.000 đồng là nhằm kéo dài thời gian, không có thiện chí trả nợ nên yêu cầu của bà A là không có cơ sở chấp nhận.

Về án phí: Bị đơn bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Trần Minh T phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 26, 147, 228, 244, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 471, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015;

Áp dụng Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình;

Áp dụng Nghị định 144/2006/NĐ – CP ngày 27 tháng 11 năm 2006 quy định về Họ, hụi, biêu phường;

Áp dụng nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị Hồng A. Buộc bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Trần Minh T có trách nhiệm liên đới trả cho bà A số tiền 108.000.000 đồng, thời gian trả và cách trả như sau:

Đối với số tiền 37.000.000 đồng, buộc bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Trần Minh T trả cho bà A 1 lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Đối với số tiền 71.000.000 đồng, buộc bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Trần Minh T trả cho bà A theo kỳ góp hụi. Khi đến kỳ góp hụi của các dây hụi. Nếu bà Thúy A và ông T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì bà A có quyền yêu cầu bà Thúy A và ông T trả cho bà 01 lần số tiền còn lại trong tổng số tiền 71.000.000 đồng nợ hụi.

Kể từ ngày bà Mai Thị Hồng A có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà A, ông T chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì còn phải chịu thêm tiền lãi theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

2/ Về án phí:

- Bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Trần Minh T phải chịu 5.400.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn lại cho bà Mai Thị Hồng A 3.375.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 09087 ngày 03/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè.

Nguyên đơn bà Mai Thị Hồng A và bị đơn bà Nguyễn Thị Thúy A có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.

Ông Trần Minh T có có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ