- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Quốc và đồng phạm - phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (điều 123 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận việc rút toàn bộ kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn U, Chế Quang Thanh L, Nguyễn Văn H1 và Lê Hữu H2, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 164 /2017/HSPT Ngày: 19/12/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Trọng Điệp.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Trung và ông Tôn Anh Dũng.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nga, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Lê Hồng Khanh, Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế số 11 Tôn Đức Thắng, thành phố Huế, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 152/2017/HSPT ngày 30/10/2017 đối với các bị cáo Nguyễn Văn Q và đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 33/2017/HSST ngày 28/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Phú Vang.
Các bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Văn Q (tên gọi khác: Cu Em); giới tính: Nam; sinh ngày 10/10/1995, tại Thừa Thiên Huế; trú tại: Thôn T, xã M, huyện V, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Sửa xe máy; trình độ văn hoá: lớp 4/12; con ông Nguyễn Văn M và bà Dương Thị T.
Tiền án: Có 02 tiền án (ngày 12/02/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tại bản án số 50/2014/HSST; ngày 01/07/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tại bản án số 138/2016/HSST)
Tiền sự: Có 01 tiền sự (ngày 12/01/2012, bị Công an thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Xâm hại sức khỏe người khác”, với số tiền 750.000 đồng, Q chưa chấp hành xong quyết định xử phạt).
Quá trình nhân thân:
- Ngày 02/02/2011, bị Công an thành phố Huế xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, với số tiền 750.000 đồng.
- Ngày 13/12/2011, bị UBND phường Phú Hiệp, thành phố Huế ra Quyết định giáo dục tại xã phường, thời gian giáo dục là 06 tháng.
- Ngày 12/03/2012, bị UBND thành phố Huế ra Quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, thời gian là 24 tháng.
Bị bắt tạm giam ngày 27/02/2017, có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Văn U; giới tính: Nam; sinh ngày 09/7/1999, tại Thừa Thiên Huế; trú tại: Phòng 209, dãy G2, khu chung cư phường S, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Mổ heo; trình độ văn hoá: Lớp 6/12; con ông Nguyễn H và bà Nguyễn Thị C; tiền án, tiền sự: Không.
Quá trình nhân thân:
- Ngày 04/04/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 05 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, theo bản án số 85/2017/HSST.
- Ngày 25/04/2017, bị Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy xử phạt 07 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, theo bản án số 25/2017/HSST.
Bị bắt tạm giam ngày 04/5/2017, có mặt tại phiên tòa.
3. Chế Quang Thanh L; (tên gọi khác: Trần Văn Lụt); giới tính: Nam; sinh ngày 02/10/1999 tại Thừa Thiên Huế; trú tại: Thôn T, xã M, huyện V, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Photocopy; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; con ông Chế Quang Thanh N và bà Trần Thị Ngọc A; tiền án, tiền sự: Không.
Quá trình nhân thân:
Ngày 29/6/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 08 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” theo bản án số 131/2017/HSST.
Bị bắt tạm giam ngày 04/5/2017, có mặt tại phiên tòa.
4. Nguyễn Văn H1 (tên gọi khác: Cu nhỏ); giới tính: N1; sinh ngày 21/3/1999, tại Thừa Thiên Huế; trú tại: Phòng 309, dãy G2, khu chung cư phường S, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 6/12; con ông Nguyễn Văn B và bà Dương Thị H3;
Tiền án: Không;
Tiền sự: Có 01 tiền sự (Ngày 27/08/2016, bị Công an tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: Trộm cắp tài sản, với số tiền 750.000 đồng. Hiện H1 chưa chấp hành xong quyết định xử phạt).
Quá trình nhân thân:
- Ngày 16/5/2017, bị Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, theo bản án số 15/2017/HSST.
Bị bắt tạm giam ngày 04/5/2017, có mặt tại phiên tòa.
5. Lê Hữu H2 (tên gọi khác: Đen); giới tính: Nam; sinh năm 1992, tại Thừa Thiên Huế; trú tại: Phòng 406, dãy G4, khu chung cư phường S, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Thợ Sơn; trình độ văn hoá: Không biết chữ; con ông Lê Văn H4 và bà Huỳnh Thị Lệ H5;
Tiền án: Có 01 tiền án .Ngày 13/01/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 02 năm 09 tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”, theo bản án số 19/2014/HSST, ngày 31/8/2015 chấp hành xong hình phạt tù;
Tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giam ngày 04/5/2017, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Chế Quang Thanh L và bị cáo Nguyễn Văn U: Bà Trần Thị Hồng Minh, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thừa Thiên Huế;
Địa chỉ: Số 09 Tôn Đức Thắng, phường Phú Hội, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn H1: Bà Nguyễn Thị Bê, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thừa Thiên Huế.
Địa chỉ: Số 09 Tôn Đức Thắng, phường Phú Hội, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Chế Quang Thanh L: Ông Chế Quang Thanh N, sinh năm 1981và bà Trần Thị Ngọc A, sinh năm 1985 (là cha, mẹ ruột của bị cáo L);.
Cùng trú tại: Thôn T, xã M, huyện V, tỉnh Thừa Thiên Huế, ông N vắng mặt, bà A có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn U: Ông Nguyễn H, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1963 (là cha, mẹ ruột của bị cáo U);
Cùng trú tại: Phòng 209, dãy G2, khu chung cư phường S, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, ông H vắng mặt, bà C có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn H1: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1978 và bà Dương Thị H3, sinh năm 1978 (là cha, mẹ ruột của bị cáo H1);
Cùng trú tại: Phòng 309, dãy G2, khu chung cư phường S, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, ông B vắng mặt, bà H3 có mặt.
NHẬN THẤY:
Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Phú Vang thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do mâu thuẫn trong lúc xem đánh cua bầu tại sân bóng đá thôn T, xã M, nên vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 31/01/2017, Nguyễn Văn M và Nguyễn Văn M1 bị Nguyễn Văn B1 dùng dây thắt lưng đánh gây thương tích, được mọi người can ngăn, M1 chở M về nhà. Khoảng 19 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn M nói với Nguyễn Văn M1 và Nguyễn Văn V đến tìm anh em B1 để đánh lại. Khi đi, M cầm theo một cây dao tự chế có cán gỗ hình đầu rồng, M1 cầm theo một cái đùi gỗ và một cái dao tự chế, còn V cầm một cái chèo bơi ghe. Ba cha con Nguyễn Văn M đến nhà ông Nguyễn Văn D để tìm anh em của B1 thì nhà ông D đóng cửa. M dùng cây dao chặt vào cửa nhà ông D làm vỡ kính cửa, thì có anh Hoàng Trọng L, cán bộ Công an huyện Phú Vang đến can ngăn và thu cây dao trên tay M và đưa M và M1 đến trạm Y tế xã Phú Mậu để khâu vết thương. Khoảng 20 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn P, Chế Quang Thanh L, Nguyễn Văn U và Trần Văn S đang chơi tại quán Bar VuVu ZaLo tại thành phố Huế, thì P nghe tin nhà ông M có chuyện nên P mượn xe mô tô nhãn hiệu Wave màu xanh, không có biển kiểm soát mà U đang sử dụng chở L về nhà Nguyễn Văn M. Lúc này, bà Dương Thị T (vợ của M) điện thoại báo cho Nguyễn Thị Như Y (là con gái của M) nói: “Mi coi về, ba mi bị họ đánh đi Bệnh viện rồi ”. Nghe vậy, Y gọi một chiếc xe taxi 07 chỗ đến khu chung cư chở Y cùng Ngô Văn T1, Nguyễn Hoài N1; Trần Văn N2; Nguyễn Văn H1; Lê H6; Đỗ Văn H7; Lê Hữu H2 về nhà Nguyễn Văn M. Khi cả nhóm đi taxi về đến nhà thì Q và V gọi T1, N1, N2, H1, H6, H7, H2 cùng P và L đi đến nhà ông Nguyễn Văn D tìm anh em của Rem (anh của B1) đánh trả thù, nhưng khi đến không có anh, em của Rem nên cả nhóm quay lại nhà M. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, M cùng M1 khâu vết thương xong thì Trần Thị Ngọc N3, ở thôn T, xã M đến chở M và M1 về nhà, khoảng 20 phút sau thì lực lượng công an đến nói với M: “Có chuyện gì để công an giải quyết, đừng đánh nhau gây ồn ào nữa”, M trả lời: “Mấy anh cứ lên đi, tôi hút hết điếu thuốc xong tôi đi ngủ”. Khi lực lượng công an đi khỏi nhà được khoảng 05 phút, thì M nói: “Đi bắt anh em thằng Rem về đây nói chuyện”, nghe vậy thì nhóm thanh niên đang ngồi trong nhà M đều đồng ý. M đi trước, V lấy xe máy Wave màu xanh, không có biển số đang dựng trước cổng nhà, chở M1 ngồi sau cầm đùi gỗ; Q cầm ống tuýp sắt dùng xe máy Sirius biển kiểm soát 75P1-1090 chở Trần Thị Ngọc N3 ngồi sau; P, H1, L, U, lấy đùi gỗ trước vườn nhà M chạy đi theo M; còn T1, N1, H2 lấy đùi gỗ xung quanh vườn nhà M; H7 cầm cục đá bờ lô vỡ chạy theo đường bê tông giáp thôn Lại L, xã T. Khi đến ngã tư gần sân bóng đá thôn T thì Q chạy xe máy Sirius quay lại gặp P, L, U, T1, N1, H1, H8, H2 nói là: “Bọn ny đây rồi, đi nhanh lên”, cả nhóm cùng nhau chạy theo Q đến nhà ông Nguyễn Văn L1. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, tất cả đến trước nhà ông L1, M cùng với Q, M1, V, U, P, H1 và L cầm đùi đi vào đứng trong hiên nhà ông L1. Còn T1, N1, H2 cầm đùi tre, H7 (H8) cầm viên bờ lô vỡ đứng ở đường bê tông trước cổng nhà ông L1. Trong nhà ông L1 lúc này có Nguyễn Văn B1, Nguyễn Văn A1, Nguyễn Văn N3, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn Đ, Võ Văn V1 đều trú tại Thôn T, xã M, huyện V sợ quá nên kéo chiếc ghế sô pha gỗ đến chặn cửa lại. Nguyễn Văn M đến trước cửa chính chụp tấm bạt màu trắng đang treo trên cửa nhà xé xuống và hô to: “Bây bước ra đây kẻo chết”, thì nhóm thanh niên trong nhà không ra. M1 và V cầm đùi đánh nhiều cái vào cửa, còn M đến chụp cái đùi gỗ trên tay của L thọc vào trong cánh cửa và thò tay vào trong để đánh số thanh niên đang giữ cửa, thì bị nhóm thanh niên trong nhà chém một nhát vào cổ tay phải. Lúc này, Q cùng U chạy vòng lại cửa sau nhà ông L1, dùng ống tuýp sắt đánh vào cửa làm vỡ cửa kính, Q mở cửa rồi cùng U đi vào trong nhà bắt N3 và B1 đem ra trước hiên nhà, M, M1, V đi vào trong nhà bắt A1 và V1 dẫn ra trước hiên nhà ông L1. Sau đó, M cùng Q, M1, V, T1, N1, H1, H7, H2, P, L và U đưa B1, A1, N3, V1 về nhà M. Khi đưa được 04 thanh niên trên về đến nhà, M nói đi lấy sợi dây xích trói bọn nó lại, nên M1 đến lấy sợi dây xích dùng xích chó ở trụ nhà ra trói tay A1, B1, V1, N3 vào gốc cây ở bể cá xi măng trước mặt nhà M, rồi bốn cha con M, M1, Q, V vào hỏi ai chặt ông M, thì họ bảo không biết, nên cha con M dùng tay chân đánh vào A1, B1, V1, N3. Lúc này, Nguyễn Thị H9 là con dâu của M nói có quen một thanh niên trong bốn thanh niên bị trói, nên M1 đến mở trói cho V1 yêu cầu ngồi trên ghế bên cạnh, còn L, U, T1, N1, H2, P vào tham gia đánh 04 thanh niên đang bị bắt rồi ra đứng ở đường bê tông trước nhà M, gần vị trí bốn thanh niên bị trói. Khoảng 15 phút sau, thì người dân thôn T kéo đến dùng gạch đá, gậy và vỏ chai bia Huđa ném vào nhà ông M, thì B1, A1, N3, V1 tự cởi trói và chạy thoát. Khi người dân xung quanh kéo đến ngày càng đông thì M1, V, Q và một số thanh niên trong nhóm của M trốn sang nhà ông Lê Văn N1 ở cạnh nhà ông M trốn. Đến khoảng 02 giờ 30 phút, ngày 01/02/2017, số thanh niên bên ngoài phát hiện các con của M đang ở trong nhà ông N1, nên họ dùng gậy, cuốc xẻng vào đập phá tài sản trong nhà ông N1, rồi dùng hung khí đánh M1, V và Q gây thương tích, sau đó được lực lượng công an vào can ngăn, đưa M1 và V đi cấp cứu tại Bệnh viện Trung ương Huế, Q cấp cứu tại Bệnh viện huyện Phú Vang.
Tại cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Phú Vang, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.
* Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, cơ quan Công an có thu giữ một số vật chứng sau đây:
- Một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave màu xanh, không có biển kiểm soát, loại xe SUFAT đã qua sử dụng, số khung VPJDCG013PJ05058414, số máy VPJL1P50F3G058414.
- Một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu xám, biển kiểm soát 75P1-1090, loại xe Sirius đã qua sử dụng.
- Một sợi dây xích bằng kim loại dài 2,7 mét mà M1 đã dùng trói 04 thanh niên.
- Một cây đao tự chế bằng kim loại màu trắng dài 60cm, có cán bằng gỗ hình đầu rồng của Nguyễn Văn M.
- Một cái chèo bơi ghe dài 80cm; Một cái chèo bơi ghe dài 163cm; Một cái chèo bơi ghe dài 146cm; Một cái đùi gỗ dài 71cm, cạnh vuông 04 × 06cm; Một cái lưỡi xên bằng kim loại dài 27cm, bản rộng 23cm; Một cây kiếm tự chế bằng kim loại màu trắng dài 71cm tạm giữ tại nhà ông Nguyễn Văn L1. Quá trình điều tra không chứng M1 được vật chứng trên là của ai sử dụng.
Trong vụ án này có Trần Văn N2, sau khi vụ án xảy ra đã đi khỏi địa phương, hiện ở đâu không rõ, quá trình điều tra chưa chứng minh được N2 có tham gia hay không nên khi nào xác minh làm rõ sẽ xử lý sau.
Đối với Trần Văn S, Lê H6, Dương Thị T, Trần Thị Ngọc N3, Nguyễn Thị Như Y và Nguyễn Thị H9 không tham gia vào vụ án nên không xử lý.
Đối với nhóm thanh niên ở trong nhà ông L1 có hành vi gây thương tích cho Nguyễn Văn M, do thương tích không đáng kể và bị can M không có yêu cầu gì nên không xem xét xử lý.
Đối với hành vi “Cố ý gây thương tích” của Nguyễn Văn M và đồng phạm cho B1, N3, A1 và V1 tại nhà Nguyễn Văn M, do thương tích không đáng kể và những người bị hại không có yêu cầu gì nên không xử lý.
Đối với hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” của bị can M cùng đồng phạm tại nhà của Nguyễn Văn D và Nguyễn Văn L1, do tài sản thiệt hại không đáng kể, người bị hại không yêu cầu bồi thường, nên không xử lý hình sự.
Đối với Nguyễn Văn B1 có hành vi “Cố ý gây thương tích” cho Nguyễn Văn M và Nguyễn Văn M1, hiện đã khởi tố điều tra, truy tố và xét xử đúng quy định pháp luật.
Đối với hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” cho gia đình Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn N1 và hành vi “Cố ý gây thương tích” cho Nguyễn Văn M1 và Nguyễn Văn V của số thanh niên ở thôn Lại Tân, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Vang đang tiến hành điều tra trong một vụ án khác.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 33/2017/HSST ngày 28/9/2017, Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế đã quyết định:
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 123; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; xử phạt: Nguyễn Văn Q (tên gọi khác: Cu Em) 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Bắt giữ người trái pháp luật”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 27/02/2017.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 123; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 69, Điều 74 Bộ luật hình sự; xử phạt: Nguyễn Văn U 01 (Một) năm tù về tội “Bắt giữ người trái pháp luật”.
Áp dụng Điều 51 của Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt 05 (Năm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” của bản án số: 85/2017/HSST, ngày 04/4/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế và 07 (Bảy) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” của bản án số: 25/2017/HSST, ngày 25/4/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế, theo quyết định tổng hợp hình phạt của nhiều bản án (Đối với người bị xử phạt tù đang bị tạm giam) số: 01/2017/QĐ-CA, ngày 09/6/2017 và Quyết định thi hành án phạt tù (Đối với người bị xử phạt tù đang bị tạm giam) số: 38/2017/QĐ-CA ngày 09/6/2017 của Chánh án Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy. Buộc bị cáo Nguyễn Văn U phải chấp hành hình phạt chung của 03 bản án là 02 (Hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 04/5/2017.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 123; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 69, Điều 74 Bộ luật hình sự; xử phạt: Chế Quang Thanh L, (tên gọi khác: Trần Văn Lụt) 09 (Chín) tháng tù về tội “Bắt giữ người trái pháp luật”.
Áp dụng Điều 51 của Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt 08 (Tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” của bản án số: 131/2017/HSST, ngày 29/6/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Buộc bị cáo Chế Quang Thanh L (tên gọi khác: Trần Văn Lụt) phải chấp hành hình phạt chung của 02 (Hai) bản án là 01 (Một) năm 05 (Năm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 04/5/2017.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 123; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 69, Điều 74 Bộ luật hình sự; xử phạt: Nguyễn Văn H1 (tên gọi khác: Cu Nhỏ) 09 (Chín) tháng tù về tội “Bắt giữ người trái pháp luật”.
Áp dụng Điều 51 của Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” của bản án số: 15/2017/HSST, ngày 16/5/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế. Buộc bị cáo Nguyễn Văn H1 (tên gọi khác: Cu Nhỏ) phải chấp hành hình phạt chung của 02 (Hai) bản án là 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 04/5/2017.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 123; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; xử phạt Lê Hữu H2 (tên gọi khác: Đen) 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Bắt giữ người trái pháp luật”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 04/5/2017.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn xử phạt tù đối với Nguyễn Văn M và Nguyễn Hoài N1; xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với các bị cáo Nguyễn Văn M1, Nguyễn Văn V, Nguyễn Văn P, Ngô Văn T1 và Đỗ Văn H7; quyết định về xử lý vật chứng, tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 09/10/2017, các bị cáo Chế Quang Thanh L và Nguyễn Văn H1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 10/10/2017, các bị cáo Nguyễn Văn Q, Lê Hữu H2 và Nguyễn Văn U có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, các bị cáo Chế Quang Thanh L, Nguyễn Văn H1, Lê Hữu H2 và Nguyễn Văn U đã rút toàn bộ kháng cáo của mình, đại diện hợp pháp của các bị cáo Chế Quang Thanh L, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn U cũng thống nhất với các bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế có ý kiến như sau: Các bị cáo Chế Quang Thanh L, Nguyễn Văn H1, Lê Hữu H2 và Nguyễn Văn U rút toàn bộ kháng cáo là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, căn cứ Điều 238 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận để đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo này; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án đối với bị cáo Nguyễn Văn Q và đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Q, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
XÉT THẤY:
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận đó là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa hôm nay, thể hiện: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 31/01/2017, Nguyễn Văn M cùng Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn M1, Nguyễn Văn V, Nguyễn Văn U, Chế Quang Thanh L, Nguyễn Văn H1, Lê Hữu H2, Nguyễn Văn P, Ngô Văn T1, Nguyễn Hoài N1 và Đỗ văn H7 đã có hành vi dùng vũ lực khống chế, bắt trái phép Nguyễn Văn B1, Nguyễn Văn A1, Nguyễn Văn N3 và Võ Văn V1 tại nhà ông Nguyễn Văn L1, ở thôn T, xã M đưa về nhà Nguyễn Văn M rồi dùng dây xích bằng kim loại trói và đánh đập số thanh niên trên.
Hành vi của các bị cáo như vừa nêu trên đã phạm vào tội bắt giữ người trái pháp luật. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế đã xét xử các bị cáo tại bản án số 33/2017/HSST, ngày 28/9/2017 là có căn cứ và đúng pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Nguyễn Văn U, Chế Quang Thanh L, Nguyễn Văn H1, Lê Hữu H2 rút toàn bộ kháng cáo của mình, việc rút kháng cáo của các bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, do đó cần chấp nhận để đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo này. Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2017/HSST ngày 28/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế có hiệu lực pháp luật đối với các bị cáo Nguyễn Văn U, Chế Quang Thanh L, Nguyễn Văn H1, Lê Hữu H2 kể từ ngày tuyên án phúc thẩm hôm nay.
Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Q, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Q là thanh niên có nhận thức, biết việc bắt giữ người trái pháp luật là hành vi nguy hiểm cho xã hội, sẽ bị xử lý nghiêm khắc, nhưng do ý thức chấp hành pháp luật kém, bị cáo vẫn bất chấp tất cả, quyết tâm thực hiện tội phạm.
Bị cáo Q có nhân thân xấu, đã có hai tiền án về tội trộm cắp tài sản, 01 tiền sự về hành vi cố ý gây thương tích cho người khác; ngoài ra, bị cáo còn có nhiều lần vi phạm pháp luật đã đã bị các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính; giáo dục tại xã, phường và đưa vào trường giáo dưỡng. Bị cáo đã có hai tiền án, đã tái phạm, nên lần phạm tội này đã phạm vào tình tiết tăng nặng chung là “tái phạm nguy hiểm” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự.
Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã cân nhắc xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo, mức hình phạt 01 năm 06 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là không nặng, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, do vậy không thể chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo mà cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế tại phiên tòa.
Án phí hình sự phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn Q phải chịu theo luật định.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ Điều 238; điểm a khoản 2 Điều 248 của Bộ luật tố tụng hình sự;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Chấp nhận việc rút toàn bộ kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn U, Chế Quang Thanh L, Nguyễn Văn H1 và Lê Hữu H2, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo. Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2017/HSST ngày 28/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế có hiệu lực pháp luật đối với các bị cáo Nguyễn Văn U, Chế Quang Thanh L, Nguyễn Văn H1, Lê Hữu H2 kể từ ngày tuyên án phúc thẩm hôm nay.
2. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Q, giữ nguyên Bản án sơ thẩm;
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 123; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Nguyễn Văn Q (tên gọi khác: Cu Em) 01 năm 06 tháng tù(một năm sáu tháng tù) về tội: “Bắt giữ người trái pháp luật”, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 27/02/2017.
- Bị cáo Nguyễn Văn Q phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2017/HSST ngày 28/9/2017 của Tòa án nhân dân huyên Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANDCC tại Đà Nẵng; - VKSNDCC tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh TT-Huế; - Phòng PV27 CA tỉnh; - Sở Tư pháp; - TAND huyện Phú Vang; - VKSND huyện Phú Vang; - Công an huyện Phú Vang; - Chi cục THA huyện Phú Vang; - Trại tạm giam CA tỉnh; - Các bị cáo; - ĐD hợp pháp các BC; - Lưu HS; HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA Hoàng Trọng Điệp |