- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Q - Cố ý gây thương tich - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm…"
- Tòa quyết gì? [1] Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 248; điểm đ khoản 1 Điều 249 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003;
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 31 Bộ luật Hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 164/2017/HS-PT Ngày : 12-12-2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Ngọc Sơn
Các Thẩm phán:
1. Ông Thái Văn Chấn
2.Ông Nguyễn Văn Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Nhuần – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 154/2017/HSPT ngày 02/11/2017 đối với bị cáo Phạm Văn Q do có kháng cáo của bị cáo Phạm Văn Q đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2017/HSST ngày 20/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Bị cáo có kháng cáo:
Phạm Văn Q, sinh năm 1990; tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thư ng trú: ấp D, xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở: ấp T, xã T huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 9/12; con ông Phạm Văn N, sinh năm 1964 và bà H Thị T, sinh năm 1963; vợ là Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1994; c 01 ngư i con sinh năm 2014.
Quá trình hoạt động: Từ nhỏ sống chung với cha mẹ, đi học đến lớp 9 nghỉ. Ngày 26/11/2009, bị Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xử phạt 05 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Ngày 31/8/2011, được đặc xá.
Tiền án, tiền sự: chưa;
Bị bắt tạm giam từ ngày 11/5/2017 đến ngày 13/6/2017 thì hủy bỏ biện pháp tạm giam cho gia đình bảo lĩnh ch xử lý.
Bị cáo tại ngoại c mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo theo luật định: Luật sư Phạm Hoàng V – Văn phòng Luật sư Phạm Hoàng V thuộc Đoàn Luật sư tỉnh An Giang (c mặt).
Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Bà H Thị T, sinh năm 1963; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang, (c mặt).
Người bị hại: Ông Nguyễn Văn Ph (Kh), sinh năm 1979; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang, (c mặt).
(Trong vụ án, những ngư i tham gia tố tụng khác không c kháng cáo).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thì nội dung vụ án được t m tắt như sau:
Khoảng 14 gi 30 phút ngày 12/02/2017, Phạm Văn Q đi bộ đến nhà Nguyễn Văn P (K), cách nhà Q khoảng 10m, thấy P đang ng i uống rượu bên trong trại trạm gỗ. Q nhớ lại mâu thuẫn trước đây nên muốn đánh P trả thù. Q lấy đoạn cây dài 65cm, nặng 650gram gần đ cầm trên tay đánh trúng vào đầu, thái dương và chân của P, r i bỏ chạy để lại đoạn cây tại hiện trư ng. Sau đ , Q đến Công an xã Tấn Mỹ đầu thú. P c đơn yêu cầu xử lý Q. Ngày 10/5/2017, Q bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Chợ Mới khởi tố để điều tra.
Vật ch ng thu giữ: 01 (một) đoạn cây gỗ tròn b ng cây tr ng cá c 01 nhánh kích thước dài 65cm; bề hoành rộng nhất 14cm; bề hoành nhỏ nhất 08cm; phần nhánh cây c kích thước 23cm; bề hoành nhánh cây 08cm; đoạn cây c trọng lượng 650gram.
Căn c bản kết luận giám định pháp y số 87 ngày 20/3/2017 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh An Giang, đối với Nguyễn Văn P (K), sinh năm 1979:
- Sẹo chẫm phải kích thước 3.5 x 0.6cm - tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 04% (bốn phần trăm), không gây cố tật;
- Sẹo thái dương trái kích thước 01 x 0.5cm – tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 01% (một phần trăm), không gây cố tật;
- Sẹo đùi trái m kích thước 02 x 0.1cm – tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 01% (một phần trăm), không gây cố tật.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại (tỉ lệ chung) là 06% (sáu phần trăm), không gây cố tật.
Căn c bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 78 ngày 21/7/2017 của trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nam bộ, đối với Phạm Văn Q, sinh năm 1990: Tại th i điểm phạm tội và hiện tại đương sự c năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhưng do bệnh lý tâm thần làm hạn chế khả năng nhận th c và điều khiển hành vi.
Tại bản Cáo trạng số 34/VKS-HS ngày 29 tháng 8 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới đã truy tố bị cáo Phạm Văn Q về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 35/2017/HSST ngày 20/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang đã quyết định:
Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 104, điểm b,p,n khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009);
Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn Q 06 (sáu) tháng tù về tội "Cố ý gây thương tích". Th i hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án và được trừ th i gian tạm giam 34 (ba mươi bốn) ngày (từ ngày 11/5/2017 đến ngày 13/6/2017).
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật ch ng; án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 02/10/2017 Bị cáo Phạm Văn Q c đơn kháng cáo với yêu cầu xin được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Kiểm sát viên thực hiện quyền công tố nhà nước tại phiên tòa phát biểu quan điểm về vụ án và đề xuất với Hội đồng xét xử:
- Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Bị cáo Phạm Văn Q kháng cáo trong hạn luật định nên đề nghị Hội đ ng xét xử phúc thẩm chấp nhận việc kháng cáo để xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
- Về nội dung: Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử bị cáo Phạm Văn Q về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng quy định của pháp luật. Quá trình phúc thẩm bị cáo c giao nộp giấy nộp tiền 15.950.000 đ ng tiền b i thư ng thiệt hại và tiền án phí tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới nên đề nghị Hội đ ng xét xử căn c điểm b khoản 2 Điều 248; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới theo hướng tuyên phạt bị cáo từ 4 tháng đến 5 tháng tù c khấu trừ th i gian tạm giam cho bị cáo.
Luật sư Phạm Hoàng V bào chữa cho bị cáo Phạm Văn Q có ý kiến như sau:
Thống nhất với tội danh, điều luật truy tố và hướng đề xuất của Viện kiểm sát. Bị cáo là ngư i bị hạn chế nhận th c mới dẫn đến hành vi phạm tội. Do đ , đề nghị Hội đ ng xét xử xem xét các tình tiết sau: Thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, vận động gia đình khắc phục toàn bộ hậu quả cho ngư i bị hại, nộp án phí và tại tòa hôm nay được ngư i bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo mà giảm cho bị cáo một phần hình phạt, sửa án sơ thẩm như Viện kiểm sát đề nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Phạm Văn Q khai nhận đã vô cớ dùng đoạn cây tr ng cá đánh nhiều cái trúng vào đầu, thái dương và chân của P vì nhớ lại trước đ P c đánh bị cáo nên toàn bộ thương tích của anh P là do bị cáo gây ra và bị cáo đã thấy được sai phạm của bản thân nên đã tự nguyện khắc phục hậu quả. Nay xin Hội đ ng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Đối với luật sư Phạm Hoàng V bào chữa cho bị cáo nêu ra những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là c căn c nên c cơ sở để Hội đ ng xét xử xem xét.
Xét kháng cáo của bị cáo Phạm Văn Q thì thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì một mâu thuẫn nhỏ nhặt với ngư i bị hại P về vụ việc đánh nhau đã hơn một năm mà bị cáo âm thầm nuôi ý định trả thù. Thực tế đã ch ng minh bị cáo đã vô cớ dùng đoạn gỗ (đoạn cây tr ng cá) đánh nhiều nhát vào vùng đầu, vùng vai, dùng chân của bị hại gây tổn hại cho cơ thể ngư i bị hại 06%. Hành vi phạm tội của bị cáo là mang tính chất côn đ , sử dụng hung khí nguy hiểm nên án sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 2009 là đúng ngư i, đúng tội. Trong quá trình lượng hình, án sơ thẩm đã xem xét cho bị cáo nhiều tình tiết giảm nhẹ nên tuyên phạt m c án 06 tháng tù là hoàn toàn c căn c .
Lẽ ra, phải giữ nguyên m c án sơ thẩm. Tuy nhiên, c xem xét bản thân bị cáo là ngư i hạn chế năng lực hành vi, c dấu hiệu bệnh lý tâm thần (theo kết luận giám định pháp y tâm thần số 78 ngày 21/7/2017 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ), sau khi gây án đã đến Cơ quan công an đầu thú, thái độ khai báo thành khẩn, vận động gia đình b i thư ng xong phần trách nhiệm dân sự thậm chí tự nguyện b i thư ng thêm 15.000.000 đ ng và án phí tại biên lai thu tiền của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới với tổng số tiền 15.950.000 đ ng theo bản án sơ thẩm số 35/2017/HSST ngày 20/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang và được ngư i bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Mặt khác, tại tòa hôm nay bà H Thị T là mẹ ruột của bị cáo và ngư i bị hại anh Nguyễn Văn P trình bày lúc bình thư ng bị cáo rất hiền, có lúc thì hung hăng cầm dao rượt chém cả vợ con, đặc biệt khi c rượu. Với một ngư i tâm tính bất thư ng, cần được điều trị tích cực dưới sự chăm s c, giám sát của gia đình, ngư i thân. Để tạo điều kiện cho bị cáo Q đi điều trị bệnh lý nên không cần thiết cách ly bị cáo khỏi đ i sống xã hội mà chuyển hình phạt nhẹ hơn cho bị cáo từ hình phạt tù sang hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Do đ , kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo được Hội đ ng xét xử chấp nhận.
Từ những nhận định trên, Hội đ ng xét xử xét thấy chấp nhận một phần quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại tòa.
Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Phạm Văn Q không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm theo điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không c kháng cáo, kháng nghị đã c hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết th i hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 248; điểm đ khoản 1 Điều 249 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo cáo Phạm Văn Q và sửa bản án hình sự sơ thẩm.
[2] Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 104; điểm b,p,n khoản 1, khoản 2 Điều 46, khoản 1,2 Điều 31 Bộ luật hình sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn Q 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ về tội "Cố ý gây thương tích". Th i hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Tấn Mỹ được giao giám sát và giáo dục ngư i bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. (Có khấu trừ th i gian 01 (một) tháng 04 (bốn) ngày tạm giam trước (từ ngày 11/5/2017 đến ngày 13/6/2017) theo quy định pháp luật.
Bị cáo Phạm Văn Q đã chấp hành xong phần trách nhiệm dân sự và án phí sơ thẩm với số tiền 15.950.000 đ ng (Mư i lăm triệu, chín trăm năm mươi ngàn đ ng) theo bản án hình sự sơ thẩm số 35/2017/HSST ngày 20/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới (biên lai thu số 003857 ngày 08/12/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang).
[3] Bị cáo Phạm Văn Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các Quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2017/HSST ngày 20/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang không có kháng cáo, kháng nghị đã c hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết th i hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm c hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao (1); - VKSND tỉnh An Giang (2); - VKSND huyện (1); - TAND huyện,thi (2); - Công an huyện (1); - Cục THADS tỉnh An Giang (1); - Chi cục THADS huyện (1); - Trại tạm giam (1); - Bị cáo (1); - Phòng KTNV và THA (1); - Tòa hình sự (1); - PV 27 (1); - Sở Tư pháp (1); - Văn phòng (2); - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Ngọc Sơn |