vanban.org

Bản án 163/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng, TP. Hải Phòng Tuyên án 07/07/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố Trần Văn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt Trần Văn A 27 (hai mươi bẩy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07 tháng 3 năm 2026. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn A - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố Trần Văn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 163/2026/HS-ST
Ngày 07-7-2026

NHÂN DA

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Bấm – Nguyên chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ quận Ngô Quyền;

Bà Nguyễn Thị Thu Hương – Nguyên phó Trưởng phòng Lao động Thương binh và xã hội quận Ngô Quyền.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Lê Trung Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 134/2026/TLST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 159/2026/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 6 năm 2026 đối với bị cáo:

Trần Văn A, sinh ngày 23 tháng 5 năm 1990 tại Hải Phòng; số CCCD: 031090013407; Nơi cư trú: Thôn V, đặc khu C, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: Lớp 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T và bà Hà Thị C; chưa có vợ, con; Tiền án: Tại bản án hình sư sơ thẩm số 72/2023/HS-ST ngày 15/6/2023 của Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/11/2024, thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 15/6/2023) - chưa xoá án tích; Tiền sự: Không; Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 28/2011/HSST ngày 17/11/2011 của Tòa án nhân dân huyện C, thành phố Hải Phòng xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý (đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/12/2013, thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 17/11/2011) - đã xoá án tích; bị bắt để tạm giam từ ngày 07/3/2026;

- Bị hại: Cháu Nguyễn Yến N, sinh 15/3/2012 (thời điểm xảy ra vụ án 13 tuổi 10 tháng 24 ngày); nơi cư trú: Thôn 7, xã N, thành phố Hải Phòng; Đại diện hợp pháp của cháu N – Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1978; nơi cư trú: Thôn 7, xã N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 53 phút ngày 08/02/2026, Trần Văn A một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 15H1-273.32 đi đến khu vực Trung tâm thương mại Bắc Mỹ Việt, tổ dân phố số 7, phường Hồng An, thành phố Hải Phòng thì phát hiện cháu Nguyễn Yến N (sinh ngày 15/3/2012, nơi cư trú: thôn 7, xã N, thành phố Hải Phòng) đang ngủ bên trong một ki-ốt bán hàng và bên cạnh có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 màu hồng tím nên nảy sinh ý định chiếm đoạt bán lấy tiền ăn tiêu. Quan sát xung quA không có người qua lại, Văn A dựng xe ở giữa đường, đi bộ vào trong ki-ốt và dùng tay phải lấy chiếc điện thoại cất giấu vào túi quần phía trước bên phải rồi điều khiển xe tẩu thoát khỏi hiện trường. Sau đó, Văn A đi về phòng trọ của bạn là chị Trịnh Thị Hồng Thắm (sinh năm 1972, nơi cư trú: ngõ 73 Kiều Hạ, phường Đông Hải, thành phố Hải Phòng) tại ngõ 73 Kiều Hạ, lấy giấy bạc bọc chiếc điện thoại vừa chiếm đoạt được và để vào thùng quần áo cá nhân ở giường ngủ của Văn A nhằm tránh bị phát hiện. Sau khi biết bị mất tài sản, gia đình cháu N đã đến Công an phường Hồng An trình báo sự việc và cung cấp hình ảnh định vị chiếc điện thoại tại phòng trọ của Văn A.

Ngày 09/02/2026, chị Trịnh Thị Hồng Thắm giao nộp cho Công an phường Hồng An 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 màu hồng tím và 01 mảnh giấy bạc có kích thước 22x10cm.

Ngày 11/02/2026, Trần Văn A đến Công an phường Hồng An làm việc theo giấy mời và tự nguyện giao nộp 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát: 15H1-273.32 cùng đăng ký xe.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS ngày 03/3/2026 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự phường Hồng An kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 đã qua sử dụng tại thời điểm định giá có trị giá là 16.783.000 đồng.

Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật; xử lý vật chứng:

- Đối với 01 điện thoại điện thoại di động hiệu Iphone 16 màu hồng tím, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của cháu Nguyễn Yến N nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho gia đình cháu N.

- Chuyển Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Hải Phòng bảo quản, chờ xử lý:

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát: 15H1-273.32 cùng đăng ký xe (qua xác minh mang tên chủ xe là A Lương Tiến Dũng, sinh năm 2003, nơi cư trú: thôn 8, xã Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng. A Dũng khai mua chiếc xe trên vào năm 2021 và năm 2025 đã bán cho một người không quen biết qua mạng xã hội, không còn giữ giấy tờ gì liên quan. Văn A khai năm 2025 mua lại chiếc xe tại một cửa hàng nhưng không nhớ rõ địa chỉ và người bán. Qua giám định, số khung, số máy của chiếc xe là số nguyên thuỷ, không phát hiện thấy có sự tẩy xóa hoặc sửa chữa các ký tự);

+ 01 mảnh giấy bạc kích thước 22x10 cm.

Về dân sự: bị hại cháu Nguyễn Yến N và người giám hộ đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu, đề nghị gì khác.

Tại Bản Cáo trạng số 57/CT-VKS ngày 21/5/2026 của Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng đã truy tố bị cáo Trần Văn A về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên và xin giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại và người đại diện hợp pháp vắng mặt tại phiên toà nhưng đã có lời khai có trong hồ sơ thể hiện đã nhận bồi thường và không có yêu cầu nào khác.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về trách Nệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn A mức án từ 24 đến 30 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản".

Về hình phạt bổ sung: Do nghề nghiệp và thu nhập của bị cáo không ổn định nên không buộc bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Về việc bồi thường thiệt hại: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu nào khác nên không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng của vụ án:

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát: 15H1-273.32 cùng đăng ký xe (qua xác minh mang tên chủ xe là A Lương Tiến Dũng, sinh năm 2003, nơi cư trú: thôn 8, xã Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng. A Dũng khai mua chiếc xe trên vào năm 2021 và năm 2025 đã bán cho một người không quen biết qua mạng xã hội, không còn giữ giấy tờ gì liên quan. Văn A khai năm 2025 mua lại chiếc xe tại một cửa hàng nhưng không nhớ rõ địa chỉ và người bán. Qua giám định, số khung, số máy của chiếc xe là số nguyên thuỷ, không phát hiện thấy có sự tẩy xóa hoặc sửa chữa các ký tự) chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra để điều tra làm rõ, xử lý sau.

+ 01 mảnh giấy bạc kích thước 22x10 cm không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Việc khởi tố, điều tra, truy tố và ban hành quyết định khởi tố, truy tố; áp dụng biện pháp ngăn chặn; tống đạt các văn bản tố tụng; lấy lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác; thời hạn điều tra, truy tố trong tố tụng hình sự đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Về căn cứ xác định tội dA và điều luật áp dụng đối với bị cáo:

Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa, lời khai của những người làm chứng có trong hồ sơ vụ án và vật chứng thu giữ có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 53 phút ngày 08/02/2026, Trần Văn A đã lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 màu hồng tím. Tại bản kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS ngày 03/3/2026 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự phường Hồng An kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 đã qua sử dụng tại thời điểm định giá có trị giá là 16.783.000 đồng của cháu Nguyễn Yến N (thời điểm xảy ra vụ án 13 tuổi 10 tháng 24 ngày) tại Trung tâm thương mại Bắc Mỹ Việt, tổ dân phố số 7, phường Hồng An, thành phố Hải Phòng. Vì vậy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Việc truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng đối với bị cáo Trần Văn A về tội dA và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân mà còn xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trị an xã hội. Vì vậy, cần thiết bắt bị cáo cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục.

- Về tình tiết tăng nặng:

Bị cáo Trần Văn A phải chịu tình tiết tăng nặng trách Nệm hình sự “Tái phạm” và “Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi” quy định tại các điểm h, i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ:

Nhân thân 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản - chưa xoá án tích; 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý - đã xoá án tích; bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về trách Nệm dân sự: Đại diện bị hại đã nhận được bồi thường và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về hình phạt bổ sung:

Do nghề nghiệp và thu nhập của bị cáo không ổn định nên không buộc bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự.

- Về vật chứng của vụ án và về trách Nệm dân sự: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết.

01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát: 15H1-273.32 cùng đăng ký xe (qua xác minh mang tên chủ xe là A Lương Tiến Dũng, sinh năm 2003, nơi cư trú: thôn 8, xã Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng. A Dũng khai mua chiếc xe trên vào năm 2021 và năm 2025 đã bán cho một người không quen biết qua mạng xã hội, không còn giữ giấy tờ gì liên quan. Văn A khai năm 2025 mua lại chiếc xe tại một cửa hàng nhưng không nhớ rõ địa chỉ và người bán. Qua giám định, số khung, số máy của chiếc xe là số nguyên thuỷ, không phát hiện thấy có sự tẩy xóa hoặc sửa chữa các ký tự) và 01 đăng ký xe mô tô số 15 005016 cấp ngày 28/12/2021, biển số đăng ký 15H1 – 273.32 thu giữ của Lương Tiến Dũng(bản gốc) chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra để điều tra, khi nào làm rõ xử lý sau.

Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh giấy bạc kích thước 22x10 cm không còn giá trị sử dụng.

- Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14; bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Đối với chị Trịnh Thị Hồng Thắm không biết, không tham gia trộm cắp tài sản cùng Trần Văn A, sau khi được Cơ quan Công an thông báo đã tự nguyện tìm và giao nộp chiếc điện thoại bị chiếm đoạt nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h, i khoản 1 Điều 52 ; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố Trần Văn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt Trần Văn A 27 (hai mươi bẩy) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07 tháng 3 năm 2026.

- Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ 01 xe mô tô Yamaha Sirius biển kiểm soát: 15H1-273.32 đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng thu giữ của Lương Tiến Dũng và 01 đăng ký xe mô tô số 15 005016 cấp ngày 28/12/2021, biển số đăng ký 15H1 – 273.32 thu giữ của Lương Tiến Dũng(bản gốc) chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra thành phố Hải Phòng để điều tra, khi nào làm rõ xử lý sau.

+ Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh giấy bạc kích thước 22x10 cm đựng trong phong bì niêm phong dán kín có dấu niêm phong của Công an phường Hồng An, thành phố Hải Phòng và chữ ký của những người liên quan(Niêm phong dán kín).

Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/5/2026 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 – Hải Phòng.

- Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, bị cáo Trần Văn A phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo Trần Văn A được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại và Người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 36 và 72 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ