vanban.org

Bản án 163/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Tuyên án 11/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoài H phạm tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 163/2023/HS-ST
Ngày 11-7-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Tống Văn Tâm;

Ông Trần Anh Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Yến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Ái - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 148/2023/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 149/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Hoài H, sinh năm 1999 tại An Giang; nơi thường trú: Ấp H, xã A, huyện Chợ M, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Hòa hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị Ngọc M, sinh năm 1974; chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không.

Ngày 07/5/2022, có hành vi gây thương tích đến ngày 09/9/2022 bị khởi tố vụ án, khởi tố bị can và áp dụng biện pháp cấm đi khởi nơi cư trú cho đến nay; có mặt.

Bị hại: Ông Trần Huy Tr, sinh năm 1991; thường trú: Ấp H, xã Tân Lộc B, huyện B, tỉnh Cà Mau; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Ông Phạm Văn Hùng E, sinh năm 1978; thường trú: Ấp M, xã Th, huyện Chợ M, tỉnh An Giang; tạm trú: Khu phố H, phường Vĩnh T, thành phố U, tỉnh Bình Dương; có mặt.

- Ông Hồ Văn Nh, sinh năm 1971; thường trú: Ấp H, xã Tân Lộc B, huyện B, tỉnh Cà Mau; vắng mặt.

- Ông Trần Xuân Ph, sinh năm 1985; thường trú: Ấp Bình Đ, xã Tân Th, thành phố M, tỉnh Cà Mau; có mặt.

Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Ngọc M; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Văn Hùng E là cha dượng của Nguyễn Hoài H. Phạm Văn Hùng E, Nguyễn Hoài H và Trần Chế L cùng ở tại khu nhà trọ Nguyễn Thị T thuộc khu phố S, phường Vĩnh T, thị xã (nay là thành phố) U, tỉnh Bình Dương.

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 07/5/2022, Trần Chế L tổ chức uống rượu với Hồ Văn Nh, Trần Xuân Ph, Trần Huy Tr tại phòng số H khu nhà trọ Nguyễn Thị T. Khi uống rượu, L rủ thêm Hùng E qua uống rượu cùng, Hùng E đồng ý. Trong lúc uống rượu, Hùng E và Nh, Ph xảy ra mâu thuẫn cãi vã nhưng được mọi người can ngăn nên Hùng E bỏ đi về phòng của mình. Khi về, do đang bực tức nên Hùng E quay trở lại phòng số H, Hùng E đi vào phòng dùng chân phải đá trúng vào mặt của Nh 01 cái làm Nh ngã xuống nền nhà. Thấy vậy, Ph đứng dậy xô Hùng E ra thì Hùng E bỏ đi về phòng. Khi về phòng Hùng E nói bà Nguyễn Thị Ngọc M là người chung sống với Hùng E đi qua phòng số H gặp Nh để xin lỗi, bà M đồng ý và đi bộ qua gặp Nh, khi bà M xin lỗi thì Trần Huy Tr nói “Cô đáng tuổi mẹ con, cô không làm gì có lỗi, kêu thằng đá cậu Nh qua đây xin lỗi”, nghe vậy nên bà M đi về nói lại cho Hùng E biết. Sau đó, Hùng E và Nguyễn Hoài H lấy 02 thanh kim loại hình tròn ở trong phòng cầm ở tay rồi đi qua phòng Nh, Ph và Tr. Thấy vậy, Tr và Ph cầm mỗi người một chai thủy tinh (vỏ chai rượu đã uống trước đó) định đánh nhau thì được mọi người can ngăn. Hùng E và H đi về phòng, lúc này bà M sợ xảy ra đánh nhau nên đã nhờ người quen dùng ổ khoá, khoá bên ngoài cửa phòng của mình lại. Cùng lúc này, NH, Tr, Ph đi bộ qua phòng của Hùng E và dùng chân đạp mạnh vào cửa phòng làm gãy khoen ổ khoá phòng, Ph và Nh vào phòng và kéo Hùng E ra bên ngoài rồi dùng tay chân đánh Hùng E, thấy nhóm của Nh đánh Hùng E nên H lấy 01 con dao bằng kim loại ở trong phòng cầm ở tay đi ra nhằm đánh lại nhóm Nh, khi H đi ra trước cửa phòng thì xảy ra xô xát với Tr, Tr đè H nằm ngã ra giữa nền xi măng, lúc này H sử dụng dao đang cầm ở tay đâm theo hướng từ dưới lên trên trúng vào chân phải của Tr gây thương tích. Sau đó, mọi người can ngăn nên tất cả dừng lại, Tr được đưa đến bệnh viện để điều trị thương tích.

Vụ việc được trình báo đến Công an phường Vĩnh T. Công an phường Vĩnh T tiếp nhận tin báo, lập hồ sơ và chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã (nay là thành phố) U thụ lý theo thẩm quyền.

Sau khi tiếp nhận hồ sơ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên tiến hành khám nghiệm hiện trường và thu giữ vật chứng của vụ án gồm: 02 vỏ chai thủy tinh hiệu Voka Holich, loại 750ML; 01 áo sơ mi dài tay, màu trắng; 01 con dao bằng kim loại dài 34cm; 02 thanh kim loại hình tròn; Mẫu máu thu giữ tại hiện trường được lưu trữ trong 01 bì thư đã được niêm phong.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 432/2022 ngày 13/6/2022 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Bình Dương kết luận: Dấu hiệu chính qua giám định, vết thương khoeo chân phải trùng vết mổ 22,5 x 0,4cm, đứt 1 phần cơ thon, rách 2/3 động mạch và tĩnh mạch đùi phải, đã phẫu thuật nối tĩnh mạch đùi phải, lấy một đoạn tĩnh mạch hiển cẳng chân trái ghép nối động mạch đùi phải, vết mổ mặt trong 1/3 dưới cẵng chân trái 11,5 x 0,2cm, sẹo lành. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 16%.

Bản Cáo trạng số 172/CT-VKSTU ngày 29/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoài H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài H từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 60.000.000 đồng là chi phí điều trị thương tích, tổn thất tinh thần và tiền mất thu nhập trong thời gian điều trị, bị cáo đã bồi thường số tiền 14.000.000 đồng, bị hại yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền 46.000.000 đồng, bị cáo đồng ý nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo và bị hại.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

Tịch thu tiêu hủy: 02 vỏ chai thủy tinh hiệu VoKa Holich, loại 750Ml; 01 áo sơ mi dài tay, màu trắng; 01 con dao bằng kim loại dài 34cm; 02 thanh kim loại hình tròn và 01 bì thư niêm phong chứa mẫu máu.

Tại phiên tòa bị cáo đồng ý với nội dung bản cáo trạng và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Trong phần trình bày lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, rất hối hận, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt, Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình điều tra, lời khai của bị cáo và bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng không mâu thuẫn với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát, bị cáo, bị hại đồng ý xét xử vắng mặt họ. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về tình tiết định tội, định khung hình phạt: Bị cáo Nguyễn Hoài H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 07/5/2022, tại khu nhà trọ Nguyễn Thị T thuộc khu phố S, phường Vĩnh T, thị xã (nay là thành phố) U, tỉnh Bình Dương, bị cáo H đã có hành vi dùng hung khí nguy hiểm là 01 con dao bằng kim loại đâm vào chân phải của ông Trần Huy Tr gây thương tích với tỷ lệ thương tật do thương tích gây nên là 16%. Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vì coi thường pháp luật và tính mạng của người khác nên cố ý thực hiện. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tố bị cáo với tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của bị hại mà còn gây mất trật tự tại địa phương. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn diện về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước mà yên tâm cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.

[7] Xét thấy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp tuy nhiên bị cáo có nhân thân tốt, có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật hạn chế, sự việc xảy ra có một phần lỗi của bị hại nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án thấp hơn đề nghị của Viện kiểm sát để bị cáo sớm trở về với gia đình.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 60.000.000 đồng là chi phí điều trị thương tích, tổn thất tinh thần và tiền mất thu nhập trong thời gian điều trị, bị cáo đã bồi thường số tiền 14.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị hại yêu cầu bị cáo phải tiếp tục bồi thường số tiền 46.000.000 đồng, bị cáo đồng ý, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo và bị hại.

[9] Đối với hành vi của ông Phạm Văn Hùng E, ông Trần Huy Tr, ông Hồ Văn Nh, ông Trần Xuân Ph chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân Uyên đã xử phạt hành chính.

[10] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

Đối với 02 vỏ chai thủy tinh hiệu VoKa Holich, loại 750Ml; 01 áo sơ mi dài tay, màu trắng; 01 con dao bằng kim loại dài 34cm; 02 thanh kim loại hình tròn và 01 bì thư niêm phong chứa mẫu máu là vật chứng vụ án, không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

[11] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoài H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

1. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài H 02 (Hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585 và Điều 590 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Hoài H phải tiếp tục bồi thường cho ông Trần Huy Tr số tiền 46.000.000 đồng (Bốn mươi sáu triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thanh toán xong số tiền phải thi hành thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.

3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 02 vỏ chai thủy tinh hiệu VoKa Holich, loại 750Ml; 01 áo sơ mi dài tay, màu trắng; 01 con dao bằng kim loại dài 34cm; 02 thanh kim loại hình tròn và 01 bì thư niêm phong chứa mẫu máu.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên).

4. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Hoài H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.300.000 đồng (Hai triệu ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nếu vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ