vanban.org

Bản án 163/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 20/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự xử phạt
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 163/2023/HS-ST
Ngày 20-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Châm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Sĩ Tiến

Bà Ngô Thị Thúy Hảo

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Quỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị N - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 154/2023/HSST ngày 26 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 166/2023/QĐXXST- HS ngày 29 tháng 5 năm 2023, đối với bị cáo:

Trần Văn T, sinh năm 1976 tại tỉnh Bình Dương, Nơi thường trú: 171/15, Nguyễn Đức Thuận, tổ 82, khu 6, phường Hiệp Thành, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương; Chỗ ở trước khi bị bắt: 169/7B, đường 3/2, Phường 12, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 01/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Cha: Trần Văn Chơn; Mẹ: Nguyễn Thị Gái; Vợ: T Thị L (Không đăng ký kết hôn); Con: Có 01 người con sinh năm 2004.

Tiền án; Tiền sự: Không.

Nhân thân:

+ Ngày 05/10/1993, bị Tòa án nhân dân thị xã Thủ Dầu Một xử phạt 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản công dân.

+ Ngày 10/10/1994, bị Tòa án nhân dân thị xã Thủ Dầu Một xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản công dân.

+ Ngày 19/9/1997, bị Tòa án nhân dân thị xã Thủ Dầu Một xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản công dân.

+ Ngày 25/3/2002, bị Tòa án nhân dân thị xã Thủ Dầu Một xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

+ Ngày 13/9/2004, bị Tòa án nhân dân thị xã Thủ Dầu Một xử phạt 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản.

+ Ngày 31/12/2008, bị Tòa án nhân dân thị xã Thủ Dầu Một xử phạt 54 tháng tù về tội Cướp giật tài sản.

Bị bắt ngày 08 tháng 02 năm 2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Vũng Tàu. Có mặt.

Bị hại: Chị Trương Thị L1 P, sinh năm: 1986; Địa chỉ: số… đường 30/4, Phường 11, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ L quan: Chị Phạm Thị H, sinh năm: 1987; Địa chỉ: KP… , huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 7 giờ 00 ngày 06/2/2023, Trần Văn T điều khiển xe máy hiệu Vision màu trắng gắn biển kiển soát 72K1-332.75 lưu thông trên đường theo hướng từ Cảng dầu khí đến Ngã tư Giếng nước, thành phố Vũng Tàu. Khi đi qua trường tiểu học Quang Trung, số 28 đường 30/4, Phường 9, thành phố Vũng Tàu, nghe tiếng trường tổ chức lễ chào cờ nên T ghé vào xem. T chạy xe máy vào cổng bên hông đối diện nhà số 28/19 đường 30/4, Phường 9, thành phố Vũng Tàu. Khi dừng xe, T thấy 01 xe Vision màu đỏ - đen gắn biển kiển soát 72C1-453.33 của chị Trương Thị L1 P dựng gần đó không đóng cốp xe nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản trong cốp xe. Quan sát thấy không ai để ý, T lén lút mở cốp xe lấy 01 túi xách, bên trong có 01 điện thoại Iphone 13 Promax màu xanh và 01 đồng hồ Apple Watch màu vàng nhạt và một số giấy tờ tùy thân mang tên Trương Thị L1 P.

Sau khi trộm cắp được tài sản của chị P, T đến tiệm điện thoại Đại Thành tại Khu phố Hải Bình, thị trấn Long Hải, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bán cho chủ cửa hàng là chị Phạm Thị H 01 đồng hồ và 01 ĐTDĐ với giá 6.500.000 đồng. Nhận thấy chiếc túi không còn tài sản gì có giá trị nên Trần Văn T vứt chiếc túi tại bãi rác thuộc ngã 3 chợ bến ấp An Thạnh, xã An Ngãi, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Số tiền bán tài sản trộm cắp được, T đã tiêu xài cá nhân hết 1.500.000 đồng. Đến ngày 08/02/2023, T bị Cơ quan Công an phát hiện, đồng thời thu hồi số tiền 5.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của T phù hợp với lời khai của người bị hại là chị Trương Thị L1 P và phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan.

Theo kết luận định giá tài sản số 25KL-HĐĐG-TTHS ngày 20/2/2023 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Vũng Tàu kết luận: 01 điện thoại Iphone 13 Promax có giá trị 22.500.000 đồng, 01 đồng hồ Apple Watch SE GPS 40mm màu vàng có giá trị 3.500.000 đồng, tổng giá trị tài sản T chiếm đoạt có giá trị 26.000.000 đồng.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:

* Việc thu giữ vật chứng:

- 01 phong bì hàn kín, bên trong có 01 đĩa CD chứa 02 đoạn video; 01 túi xách, bên trong có giấy tờ tùy thân mang tên Trương Thị L1 P; 01 điện thoại Iphone 13 Promax màu xanh và 01 đồng hồ Apple Watch màu vàng nhạt; 01 mũ bảo hiểm màu đen; 01 xe máy hiệu Vision màu trắng, BKS: 72K1-332.75.

Đối với xe máy hiệu Vision màu trắng, BKS: 72K1-332.75: Qua xác minh xác định chủ sở hữu là chị Trần Thị Hồng. Chị N đã bán chiếc xe này cho chị Trương Ngọc L (là người cùng chung sống với Trần Văn T nhưng không đăng ký kết hôn) vào khoảng cuối năm 2022 nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Ngày 06/02/2023, T sử dụng xe mô tô trên đi trộm cắp, chị L không biết và không L quan đến hành vi phạm tội của T.

* Xử lý vật chứng:

Cơ quan CSĐT Công an TP Vũng Tàu đã tiến hành xử lý vật chứng theo Quyết định số 108/QĐ-Đ2 ngày 04/5/2023:

- Trả cho chị Trương Thị L1 P 01 điện thoại Iphone 13 Promax màu xanh và 01 đồng hồ Apple Watch màu vàng nhạt; 01 túi xách bạc màu bên trong có giấy tờ tùy thân mang tên Trương Thị L1 P.

- Trả cho chị Phạm Thị H số tiền 5.000.000 đồng;

- Trả lại cho chị T Ngọc L 01 xe máy hiệu Vision màu trắng, BKS: 72K1-332.75.

+ Chuyển 01 đĩa CD theo hồ sơ vụ án;

+ Chuyển 01 mũ bảo hiểm màu đen sang Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý, chờ xử lý.

Phần dân sự:

- Chị P đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì thêm.

- Chị Phạm Thị H không yêu cầu T bồi thường số tiền 1.500.000 đồng;

Căn cứ vào các tình tiết và chứng cứ nêu trên,

Tại Cáo trạng số 150/CT-VKSVT ngày 25/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội trộm cắp tài sản.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Không yêu cầu nên không xem xét.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Lưu 01 phong bì hàn kín, bên trong có 01 đĩa CD chứa 02 đoạn video theo hồ sơ vụ án.

- Tịch thu, tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm màu đen không còn giá trị sử dụng.

Bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Bị cáo không có tranh luận với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong vụ án này đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của bị hại: Bị hại, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đầy đủ lời khai tại cơ quan điều tra. Bị cáo, đại diện Viện kiểm sát thành phố Vũng Tàu tham gia phiên tòa không yêu cầu hoãn phiên tòa nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 7 giờ 00 ngày 06/2/2023, tại cổng bên hông đối diện nhà số 28/19 đường 30/4, Phường 9, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Trần Văn T đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax có giá trị 22.500.000 đồng, 01 đồng hồ Apple Watch SE GPS 40mm màu vàng có giá trị 3.500.000 đồng để trong cốp xe mô tô hiệu Vision màu đỏ - đen gắn biển kiển soát 72C1-453.33 của chị Trương Thị L1 P. Tổng giá trị tài sản T chiếm đoạt của chị P là 26.000.000 đồng.

Bị cáo là người đã trưởng thành, biết việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện nhằm mục đích có tiền tiêu xài cá nhân. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Khi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu nên khi xem xét áp dụng hình phạt cần nghiêm khắc để đảm bảo tính răn đe.

Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thuộc điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải trả lại 1.500.000 đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Lưu 01 phong bì hàn kín, bên trong có 01 đĩa CD chứa 02 đoạn video theo hồ sơ vụ án.

- Tịch thu, tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm màu đen không còn giá trị sử dụng.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QU T ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn T 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 08 tháng 02 năm 2023.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

- Lưu 01 phong bì hàn kín, bên trong có 01 đĩa CD chứa 02 đoạn video theo hồ sơ vụ án.

- Tịch thu, tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm màu đen không còn giá trị sử dụng.

Vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Vũng Tàu đang bảo quản theo Biên bản giao nhận vật chứng số 208/BB-CCTHADS ngày 08 tháng 6 năm 2023.

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 bị cáo Trần Văn T phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong vòng 15 ngày tính từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ