vanban.org

Bản án 163/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1, Chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Phạm Thị H đối với ông Hoàng V.

Bà Phạm Thị H ly hôn ông Hoàng V. 2, Về con chung: Ông Anh và bà H có 04 con chung là Hoàng Thị Phương Linh, sinh ngày 22/7/1985; Hoàng Thị Phương Thúy, sinh ngày 07/5/1988; Hoàng Lê Thanh Lâm, sinh ngày 20/3/1998; Hoàng Lê Thanh Thanh, sinh ngày 07/2/2000. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 1, Chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Phạm Thị H đối với ông Hoàng V.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BA ĐÌNH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 163 /2022/HNGĐ-ST
Ngày 22 tháng 3 năm 2022
V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đồng Thị Lai

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thụy

2. Bà Lương Thị Phương

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Phương -Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thu Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 3 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 03/2022/TLST- HNGĐ ngày 04/01/2022 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2022/QĐXX-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 47/2022/QĐST-HNGĐ ngày 04/3/2022 giữa:

Nguyên đơn: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1960. (Có mặt)

Bị đơn: Ông Hoàng V, sinh năm 1960. (Vắng mặt)

Cùng địa chỉ cư trú: Số nhà 36 ngõ 260 phố Đội Cấn, phường Liễu Giai, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn:

Ông Trần Xuân Tiền và bà Thái Phương Quế- Luật sư Văn phòng Luật sư Đồng Đội. (Vắng mặt).

NHẬN THẤY:

Theo đơn khởi kiện ngày 27/12/2021 và các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn là bà Phạm Thị H trình bày:

Bà và ông Hoàng V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thượng Thanh, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội ngày 05/10/1984.

Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống hạnh phúc từ năm 1984 đến năm 1999. Năm 2000 thì phát sinh mâu thuẫn, do không cùng quan điểm sống và khác biệt về lối sống nên giữa hai vợ chồng liên tục nảy sinh mâu thuẫn với nhau khiến gia đình không còn hạnh phúc, vui vẻ. Những mâu thuẫn nhỏ tích dần thành những mâu thuẫn lớn khiến cả hai đều không thể tháo gỡ được. Gia đình, bạn bè hai bên nhiều lần khuyên răn, hòa giải nhưng đều không thành. Mâu thuẫn, cãi vã căng thẳng khiến hai vợ chồng không thể nói chuyện và không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, mặc dù sống chung một nhà nhưng hai người đã ly thân mỗi người ở một phòng từ năm 2020, ông V thường xuyên vắng nhà, không còn quan tâm đến nhau nữa, ông Anh luôn thờ ơ, đối xử lạnh nhạt với bà trong nhiều năm làm bản thân bà rất mệt mỏi và áp lực. Ông Anh có quan hệ với người phụ nữ khác và có 01 con trai với người phụ nữ đó nhưng bà không có chứng cứ. Bà xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ không có, nên đề nghị Toà án giải quyết cho bà được ly hôn ông V để bà ổn định cuộc sống.

Về con chung: Bà và ông V có 04 con chung là Hoàng Thị Phương Linh, sinh ngày 22/7/1985; Hoàng Thị Phương Thúy, sinh ngày 07/5/1988; Hoàng Lê Thanh Lâm, sinh ngày 20/3/1998; Hoàng Lê Thanh Thanh, sinh ngày 07/2/2000. Các con chung đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản và nhà ở: Bà và ông V tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản, nhà ở.

Về công nợ: Bà và ông V không vay nợ ai, không cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là ông Hoàng V được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không đến Tòa án nên không có lời khai.

Tại phiên tòa:

Bà H vẫn giữ yêu cầu xin được ly hôn ông V và trình bày: Vợ chồng bà không hạnh phúc từ nhiều năm nay, nguyên nhân chính là do ông Anh có 01 con trai với người phụ nữ khác, không quan tâm và lạnh nhạt với vợ. Tại phiên tòa bà xuất trình bản photo các tin nhắn giữa ông Anh với người phụ nữ đó và hình ảnh chụp bà bị ông Anh đánh chấn thương vùng mắt, bà pH đi khám ở bệnh viện Xanhpoon. Tuy nhiên sự việc này bà cũng chỉ xuất trình được chứng cứ là bản photo và không yêu cầu Tòa án xác minh vì bà nhận thấy tình cảm vợ chồng lạnh nhạt, không còn khả năng hàn gắn nên bà đề nghị Tòa án cho bà ly hôn ông Anh.

Ông Anh vắng mặt tại phiên tòa. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Anh theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên ông Anh không đến Tòa án nên không có lời khai.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn xin xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Các đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

Về việc giải quyết vụ án: Tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua lời khai của đương sự tại phiên tòa hôm nay cho thấy vợ chồng ông Anh và bà H không còn tình cảm, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, khả năng đoàn tụ không có. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bà H ly hôn ông Anh. Về con chung: vợ chồng có 04 con chung đã trưởng thành. Về tài sản và nhà ở: Hai bên tự giải quyết.

Án phí: Bà H pH chịu án phí 300.000 đồng. Hai bên có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Ông Hoàng V đã được tống đạt, niêm yết quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Như vậy, việc vắng mặt của ông Anh Văn được xem là từ bỏ quyền trình bày, đưa ra ý kiến chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông Anh.

Về nội dung:

. Ông Hoàng V và bà Phạm Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thượng Thanh, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội ngày 05/10/1984. Đây là hôn nhân hợp pháp.

. Theo bà H trình bày: Quá trình vợ chồng chung sống phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, hai người đã ly thân mỗi người ở một phòng từ năm 2020, ông V thường xuyên vắng nhà, ông Anh có con với người phụ nữ khác nên vợ chồng đối xử lạnh nhạt không còn quan tâm đến nhau nữa,. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng không còn khả năng đoàn tụ nên xin ly hôn ông Anh.

Về phía ông Anh không có lời khai, do trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng cho ông Anh. Tuy nhiên, ông Anh không đến Tòa án nên Tòa án không ghi được lời khai của ông Anh và cũng không tiến hành hòa giải được.

. Hội đồng xét xử nhận thấy, tài liệu có trong hồ sơ thể hiện ông Anh và bà H không hạnh phúc, bà H nghi ngờ ông Anh không chung thủy và cho rằng ông Anh có con riêng với người phụ nữ khác, hai bên không còn quan tâm đến nhau.

Xét thấy, cuộc sống chung của vợ chồng ông Anh và bà H không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ. Do đó căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, xử cho bà H ly hôn ông Anh.

Về con chung: Bà H và ông Anh có 04 con chung là Hoàng Thị Phương Linh, sinh ngày 22/7/1985; Hoàng Thị Phương Thúy, sinh ngày 07/5/1988; Hoàng Lê Thanh Lâm, sinh ngày 20/3/1998; Hoàng Lê Thanh Thanh, sinh ngày 07/2/2000.

Các con chung đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.

Về tài sản và nhà ở: Bà H xin tự giải quyết, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

Về nợ: Bà H xác nhận vợ chồng không nợ ai, không cho ai vay nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Bà H pH chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Bà H có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Ông Anh vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Tòa án nên được chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 56, 58; 59; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Áp dụng Điều 28; điều 144; điều 147; Điều 227; Điều 271, 273 Bộ Luật tố tụng dân sự;

Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngµy 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Xử:

1, Chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Phạm Thị H đối với ông Hoàng V.

Bà Phạm Thị H ly hôn ông Hoàng V.

2, Về con chung: Ông Anh và bà H có 04 con chung là Hoàng Thị Phương Linh, sinh ngày 22/7/1985; Hoàng Thị Phương Thúy, sinh ngày 07/5/1988; Hoàng Lê Thanh Lâm, sinh ngày 20/3/1998; Hoàng Lê Thanh Thanh, sinh ngày 07/2/2000.

Các con chung đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3, Về tài sản và nhà ở: Bà Phạm Thị H xin tự giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.

4, Về nợ: Bà Phạm Thị H xác nhận vợ chồng không nợ ai, không cho ai vay không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.

5, Về án phí: Bà Phạm Thị H pH chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0067735 ngày 04/01/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình.

Bà H có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Ông Anh vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ