vanban.org

Bản án 163/2021/QĐST

TAND huyện Chương Mỹ, TP. Hà Nội Tuyên án 15/12/2021 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính: Phạt Nguyễn Văn T 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 54 (năm mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Văn T mua bán ma tuý - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƯƠNG MỸ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 163/2021/HS-ST
Ngày: 15/12/2021

NNHHÂÂNN DDAANNHH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hưng

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Hữu Trọng

- Bà Nguyễn Thị Luận

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đắc Hùng - Thư ký của Tòa án nhân dân

huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội

tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hòa - Kiểm sát viên

Ngày 15 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 168/2021/TLST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 185/2021/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2021, đối với bị cáo:

NGUYỄN VĂN T, sinh năm 1982 tại Hà Nội. Nơi cư trú: Thôn S, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị G; có vợ là Đặng Thị Kim N và 01 con; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

1. Bản án số 169/2012/HSST ngày 16/3/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”; bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/5/2013, nộp án phí ngày 05/9/2012 (Đã xóa án tích)

2. Bản án số 21/2017/HSST ngày 21/3/2017 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/10/2018, nộp án phí ngày 28/3/2017 (Đã xóa án tích)

3. Ngày 11/02/2020, Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, thành phố Hà Nội ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do sử dụng chất ma túy.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/9/2021 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội. Danh chỉ bản số 609 lập ngày 22/9/2021 tại Công an huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Hữu T, sinh năm 1986; trú tại: Thôn Y, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn H, anh Nguyễn Đắc P. Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 08/9/2021, Trần Hữu T và Nguyễn Đắc P gọi điện rủ nhau góp tiền mua ma túy để cùng sử dụng. Do P chưa có tiền nên bảo T ứng ra trước, P sẽ trả cho T sau. Toàn gọi điện cho Nguyễn Văn T hỏi mua 500.000 đồng ma túy Heroine, T đồng ý bán và hẹn T đến nhà T để giao dịch. Khoảng 10 giờ, Phú đến nhà T, sau đó mấy phút thì T đến. Khi đến, T đưa cho T 500.000 đồng, T bảo cả hai vào nhà ngồi chờ. T đến khu vực nghĩa trang thuộc thôn Đ, xã T, huyện Chmua của một người đàn ông không quen biết 01 túi ma túy Heroine, giá 1.000.000 đồng. Khoảng 10 giờ 25 phút cùng ngày, khi mang về nhà, Trung lấy ra một phần để vào mảnh nilông màu đen định gói lại đưa cho Toàn thì đúng lúc này cơ quan Công an đến kiểm tra. T cầm cả 02 túi ma túy giấu lên mái nhà. Cơ quan Công an kiểm tra đã phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Quá trình kiểm tra đã thu giữ:

- 01 túi nilông màu trắng và 01 gói nilông màu đen, bên trong đều chứa chất bột màu trắng (niêm phong ký hiệu Mẫu số 01);

- 02 vỏ túi nilông có dính tinh thể màu trắng và 01 vỏ túi nilông có dính chất bột màu trắng (niêm phong ký hiệu Mẫu số 02);

- 01 chiếc cân điện tử, trên bề mặt dính chất bột màu trắng (niêm phong ký hiệu Mẫu số 03);

- 01 hộp kim loại, bên trong có 02 ống hút được cuốn bằng 02 tờ tiền 2.000 đồng, 01 ống hút bằng nhựa màu xanh, 01 lưỡi dao lam, 01 bật lửa ga, 07 mảnh giấy nhỏ và 01 mảnh giấy bạc;

- 02 xi lanh kim tiêm và 01 ống nước cất Novocain;

- 01 điện thoại di động Samsung và 1.570.000 đồng của Nguyễn Văn T;

- 01 điện thoại di động Nokia của Trần Hữu T:

- 01 điện thoại di động Iphone 5S của Nguyễn Đắc P.

Tại kết luận giám định số 6767/KLGĐ-PC09 ngày 15/9/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận:

- Mẫu số 01 gồm: Chất bột màu trắng bên trong 01 túi nilông màu trắng là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,597 gam; chất bột màu trắng bên trong 01 gói nilông màu đen là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,041 gam.

- Mẫu số 02 gồm: 01 vỏ túi nilông có dính ma túy loại Heroine và 02 vỏ túi nilông đều có dính ma túy loại Methamphetamine.

- Mẫu số 03 gồm: 01 cân điện tử màu đen có dính ma túy loại Heroine.

Tại kết luận giám định số 6959/KL-PC09-Đ3 ngày 26/9/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Trên 01 túi nilông màu trắng và 01 mảnh nilông màu đen không phát hiện thấy dấu vết đường vân.

Nguyễn Văn T khai nhận: Nguyễn Đắc P có quan hệ họ hàng, thỉnh thoảng đến nhà T chơi và được Trung cho sử dụng ma túy nên khi P đến, Trung không biết là P đến để mua ma túy cùng Toàn. Khi bán ma tuý cho Trần Hữu T, T cũng không biết việc T và P rủ nhau góp tiền cùng mua ma túy để sử dụng. Đối với số ma tuý trong túi nilông màu trắng, T dùng để sử dụng cho bản thân, không dùng vào mục đích để bán. Trần Hữu T và Nguyễn Đắc P cũng khai nhận khi mua ma túy, T và P không nói cho T biết việc T và P góp tiền cùng mua ma túy.

Ngoài hành vi nêu trên, Trần Hữu T khai còn mua ma túy của Nguyễn Văn T 02 lần khác vào ngày 01/9/2021 và 05/9/2021; Nguyễn Đắc P khai còn mua ma túy của Nguyễn Văn T 02 lần khác vào ngày 02/9/2021 và 03/9/2021; tuy nhiên Nguyễn Văn T đều không thừa nhận.

Đối với người bán ma túy cho T: Do T không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này nên cơ quan điều tra không có đủ tài liệu để xác minh, xử lý.

Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã trả lại Nguyễn Đắc P 01 điện thoại di động Iphone 5S; trả cho bà Nguyễn Thị G (mẹ bị cáo Nguyễn Văn T) 1.570.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 167/CT-VKS-CM ngày 29/11/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội truy tố Nguyễn Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đối với Trần Hữu T và Nguyễn Đắc P có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, nhưng do số lượng ma túy chưa đủ định lượng cấu thành tội phạm để xử lý hình sự nên cơ quan Công an đã ra quyết định xử phạt hành chính.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Văn T từ 30 tháng đến 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của cả hai tội từ 48 tháng đến 60 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 02 điện thoại di động và 4.000 đồng (dùng để cuốn 02 ống hút); tịch thu tiêu hủy số ma túy và các vật chứng còn lại.

- Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Khoảng 10 giờ 25 phút ngày 08/9/2021, tại nhà của Nguyễn Văn T ở thôn S, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội, Nguyễn Văn T có hành vi bán cho Trần Hữu T 01 túi ma túy loại Heroine, khối lượng 0,041 gam với giá 500.000 đồng và tàng trữ 01 túi ma túy loại Heroine, khối lượng 0,597 gam để sử dụng thì bị cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang.

. Quá trình điều tra xác định: Khi bán ma túy cho Trần Hữu T, Nguyễn Văn T không biết việc T và P rủ nhau góp tiền cùng mua ma túy nên không có căn cứ xác định bị cáo bán ma túy cho 02 người. Đối với việc Trần Hữu T và Nguyễn Đắc P khai còn mua ma túy của T những lần khác, ngoài lời khai của T và P không còn chứng cứ nào khác để chứng minh, Nguyễn Văn T không thừa nhận nên cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự.

. Với những tình tiết nêu trên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến các quy định của nhà nước về quản lý, sử dụng các chất ma tuý, gây mất ổn định tình hình trật tự, an toàn xã hội, góp phần làm gia tăng và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Bị cáo có nhân thân xấu nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

. Tuy nhiên, sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định và đang bị tạm giam nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về nguồn gốc số ma túy: Do Nguyễn Văn T không biết tên, tuổi, địa chỉ của người bán ma túy, cơ quan điều tra không có đủ tài liệu để xác minh nên Hội đồng xét xử cũng không có căn cứ để xem xét.

. Đối với Trần Hữu T và Nguyễn Đắc P: Do số lượng ma túy tàng trữ trái phép chưa đủ định lượng cấu thành tội phạm nên cơ quan Công an đã ra quyết định xử phạt hành chính là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Về xử lý vật chứng:

- Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã trả lại Nguyễn Đắc P 01 điện thoại di động Iphone 5S là đúng pháp luật;

- Đối với số tiền 500.000 đồng của Trần Hữu T đưa cho Nguyễn Văn T để mua ma túy: Đây là tiền T mua ma túy của T nên cần buộc bị cáo phải nộp lại để sung vào ngân sách Nhà nước.

- Đối với số tiền 1.570.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn T không phải vật chứng của vụ án, tuy nhiên lẽ ra cần tiếp tục tạm giữ để bảo đảm việc thi hành án của bị cáo, song cơ quan điều tra đã trả cho bà Nguyễn Thị G (mẹ bị cáo) nên Hội đồng xét xử không yêu cầu bà G phải nộp lại.

- Đối với 01 điện thoại di động Samsung, 02 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng dùng để cuốn làm ống hút thu giữ của Nguyễn Văn T và 01 điện thoại di động Nokia của Trần Hữu T là công cụ, phương tiện phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

- Đối với số ma túy, 01 chiếc cân điện tử và các vật chứng còn lại là vật cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

. Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên thì thấy: Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hoàn toàn đúng với các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55; Điều 47 Bộ luật hình sự.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt chính: Phạt Nguyễn Văn T 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 54 (năm mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/9/2021.

3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

4. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy số ma túy, 04 vỏ túi nilông, 01 mảnh nilông, 01 cân điện tử đã thu giữ, được đựng trong 03 phong bì, gồm:

+ 01 phong bì do Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội dán kín, bên ngoài có chữ ký niêm phong của giám định viên Trần Ngọc Chinh, chữ ký của cán bộ Công an Đinh Đoàn Giỏi và chữ ký của đối tượng Nguyễn Văn Trung (Mẫu số 01);

+ 01 phong bì do Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội dán kín, bên ngoài có chữ ký niêm phong của giám định viên Trần Ngọc Chinh, chữ ký của cán bộ Công an Đinh Đoàn Giỏi và chữ ký của đối tượng Nguyễn Văn Trung (Mẫu số 02);

+ 01 phong bì do Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội dán kín, bên ngoài có chữ ký niêm phong của giám định viên Trần Ngọc Chinh, chữ ký của cán bộ Công an Đinh Đoàn Giỏi và chữ ký của đối tượng Nguyễn Văn Trung.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp kim loại kích thước (19x14x4,5)cm; 01 ống hút bằng nhựa màu xanh, chiều dài 6,7cm; 01 lưỡi dao lam đã qua sử dụng; 01 bật lửa ga màu vàng đã qua sử dụng; 07 mảnh giấy, lớn nhất có kích thước (15/7)cm, nhỏ nhất có kích thước (4,5x5)cm; 01 mảnh giấy bạc có kích thước (8,8x4,2)cm; 02 xi lanh kim tiêm và 01 ống nước cất Novocain đều chưa qua sử dụng.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 4.000 đồng và 01 điện thoại di động Samsung, vỏ màu đen đã cũ, số IMEI 1: 355228/08/494994/8, số IMEI 2: 355229/08/494994/6 và 01 điện thoại di động Nokia vỏ màu xanh đã cũ.

- Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 500.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 30/11/2021 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội. Số tiền 4.000 đồng hiện đang gửi trong tài khoản số 3949.0.1052753.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội tại Kho bạc nhà nước huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội theo Giấy nộp tiền ngày 30/11/2021).

5. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ