vanban.org

Bản án 163/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chị Ngô Thị Mỹ L được ly hôn anh Lê Đình P.

Giao con chung tên Lê Thị Mỹ D, sinh ngày 23 tháng 6 năm 2006, hiện đang ở với chị Ngô Thị Mỹ L cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Lê Đình P không cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng không được lạm dụng v… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ ly hôn Lệ-Phương"
  • Tòa quyết gì? Chị Ngô Thị Mỹ L được ly hôn anh Lê Đình P.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 163/2021/HNGĐ-ST
Ngày 07 tháng 7 năm 2021
Vv “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Duy Minh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Thành Nghĩa;

2. Bà Trần Thị Minh Thâm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Linh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hoài - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 332/2020/TLST-HNGĐ, ngày 20 tháng 11 năm 2020, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2021/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 5 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 854/2021/QĐST-DS ngày 17 tháng 6 năm 2021; giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngô Thị Mỹ L, sinh năm 1983 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định.

Bị đơn: Lê Đình P, sinh năm 1981 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 16 tháng 11 năm 2020, lời khai có tại hồ sơ và tại phiên Tòa hôm nay, nguyên đơn chị Ngô Thị Mỹ L trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Lê Đình P qua thời gian quen nhau tìm hiểu rồi tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn vào ngày 15 tháng 9 năm 2001 tại UBND xã P, huyện T, tỉnh Bình Định. Vợ chồng chung sống đến năm 2008 thì xảy ra mâu thuẫn vì anh P có quan hệ ngoại tình, thường xuyên ăn nhậu về chửi mắn đánh đập chị, có lần chị phải đi Bệnh viện điều trị. Nhưng chị vẫn cố gắng chịu đựng để lo cho các con. Tuy nhiên anh P vẫn không thay đổi nên mâu thuẫn vợ chồng kéo dài liên tục cho đến đầu năm 2020 chị về nhà cha mẹ chị ở cho đến nay. Từ đó chị và anh P không gặp nhau lần nào. Nay chị và anh P không còn tình cảm với nhau nữa và không thể tiếp tục sống chung với nhau được nữa nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Lê Đình P.

- Về con chung: Chị và anh Lê Đình P có hai con chung: Lê Tấn P, sinh ngày 15 tháng 3 năm 2001và Lê Thị Mỹ D, sinh ngày 23 tháng 6 năm 2006, hai con hiện đang ở với chị. Cháu P đã đủ 18 tuổi, chị yêu cầu được nuôi cháu D, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Chị và anh Lê Đình P tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa giải quyết về tài sản.

- Về nợ chung: Chị và anh Lê Đình P không có nợ chung, không ai nợ chị và anh Lê Đình P.

* Bị đơn anh Lê Đình P đã được niêm yết hợp L các văn bản tố tụng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do.

* Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên Tòa P biểu ý kiến:

- Về việc tuân thủ quy định tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nên đề nghị xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Ngô Thị Mỹ L. Giao cháu Lê Thị Mỹ D cho chị L nuôi dưỡng; chị L không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: chị Ngô Thị Mỹ L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án mà bị đơn là anh Lê Đình P cư trú tại thôn Đ, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bình Định theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Lê Đình P đã được niêm yết hợp L Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt anh P.

Chị Ngô Thị Mỹ L và anh Lê Đình P tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 15 tháng 9 năm 2001 tại UBND xã P, huyện T, tỉnh Bình Định nên hôn nhân giữa chị L và anh P là hợp pháp. Chị L và anh P chung sống đến năm 2008 thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, nhưng chị L vẫn cố gắng chịu đựng để lo cho các con. Tuy nhiên anh P vẫn không thay đổi nên mâu thuẫn giữa chị L và anh P kéo dài liên tục cho đến hôm nay. Kể từ đầu năm 2020 thì chị L về nhà cha mẹ chị ở cho đến nay, anh P không gặp chị L lần nào để hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Điều này chứng tỏ hôn nhân giữa chị L và anh P đã lâm vào tình trạng trầm trọng. Do đó áp dụng các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình, cho chị Ngô Thị Mỹ L được ly hôn với anh Lê Đình P.

Về con chung: chị Ngô Thị Mỹ L và anh Lê Đình P có hai con chung: Lê Tấn P, sinh ngày 15 tháng 3 năm 2001và Lê Thị Mỹ D, sinh ngày 23 tháng 6 năm 2006, hai con hiện đang ở với chị L. Cháu P đã đủ 18 tuổi, cháu D đang ở với chị L và theo nguyện vọng của cháu D muốn được ở với chị L nên giao cháu D cho chị L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Chị L không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.

Về tài sản chung và nợ:

- Chị Ngô Thị Mỹ L không yêu cầu Tòa giải quyết về tài sản nên Hội đồng xét xử không xét.

- Trong thời kỳ hôn nhân, chị L và anh P không nợ ai, không ai nợ chị L và anh P.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và L phí Tòa án, chị Ngô Thị Mỹ L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sung vào ngân sách nhà nước.

* Ý kiến của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội,

1. Chị Ngô Thị Mỹ L được ly hôn anh Lê Đình P.

2. Giao con chung tên Lê Thị Mỹ D, sinh ngày 23 tháng 6 năm 2006, hiện đang ở với chị Ngô Thị Mỹ L cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Lê Đình P không cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc làm ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cũng như việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tiền án phí: Chị Ngô Thị Mỹ L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sung vào ngân sách nhà nước, nhưng được trừ vào 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí mà chị L đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000885 ngày 16 tháng 11 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Bình Định.

Đương sự có mặt tại phiên Tòa có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên Tòa có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được niêm yết hoặc tống đạt hợp L. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Đương sự;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện T;

- CC THADS H.T;

- Phòng KTNV và THA TAND tỉnh Bình Định;

- UBND xã P, H. T;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Võ Duy Minh THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thành Nghĩa Trần Thị Minh Thâm

Võ Duy Minh

Cỡ chữ