- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Xác định cha cho con giữa Hoàng Thị M và Vũ Anh T"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị M
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 163/2021/HNGĐ-ST Ngày 23-9-2021 V/v xác định cha cho con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Ngọc Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đào Tuấn Điệp
Bà Lương Thị Kim Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tươi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Ngày 23 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 139/2021/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2021 về việc xác định cha cho con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 260/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 9 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ChịHoàng Thị M, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn Cao B, xã Đại H, huyện Kiến T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt, đề nghị xét xử vắng mặt;
- Bị đơn: Anh Vũ Anh T, sinh năm 1986; nơi cư trú: 12/345 Lê L, phường Lê L, quận Ngô Q, thành phố Hải Phòng; vắng mặt, đề nghị xét xử vắng mặt;
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Choe Han B, sinh năm 1965, địa chỉ:53 Wolgog-ri, Nongso-myeon,Gimcheon-si, Gyeongsangbuk-do, Hàn Quốc; vắng mặt, đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 06/8/2021, nguyên đơn chị Hoàng Thị M trình bày:
Năm 2015, chị có đăng ký kết hôn với ông Choe Han B, sinh năm 1965, địa chỉ: 53-7 Wolgogoeji-gil, Nongso-myeon, Gimcheon-si Gyeongsangbuk-do, Hàn Quốc. Sau khi đăng ký kết hôn thì ông Choe Han B và chị không chung sống cùng nhau, ông Choe ở Hàn Quốc, còn chị thì sống tại Việt Nam. Từ đó đến nay, ông Choe cũng không quay trở lại Việt Nam và hai người không liên lạc với nhau. Chị xác định giữa hai người có khoảng cách về địa lý, chênh lệch về độ tuổi, tính cách không hợp nhau và không có khả năng đoàn tụ nên đến tháng 11/2020 chị và ông Choe đã ly hôn theo Bản án số 174/2020/HNGĐ-ST ngày 26/11/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng. Trong thời gian chị chưa ly hôn với ông Choe thì chị đã có quan hệ tình cảm với anh Vũ Anh T, sau đó chị có thai với anh T. Ngày 02/8/2016, chị sinh bé trai có tên dự sinh là Vũ Hoàng T tại Trung tâm y tế huyện Kiến T, thành phố Hải Phòng là con của anh T, không phải con của ông Choe. Để đảm bảo quyền lợi cho con trai chị, chị đề nghị Tòa án xem xét và xác định anh T là cha của bé trai có tên dự sinh là Vũ Hoàng T, do chị sinh ngày 02/8/2016 tại Trung tâm y tế huyện Kiến T, thành phố Hải Phòng.
Anh Vũ Anh T có quan điểm trình bày:
Anh biết chị Hoàng Thị M có chồng là ông Choe Han B ở nước ngoài, hai người không ở với nhau và chưa ly hôn. Trong thời gian chị M chưa ly hôn với ông Choe, anh và chị M đã quan hệ tình cảm và ngày 02/8/2016, chị M đã sinh bé trai có tên dự sinh là Vũ Hoàng T tại Trung tâm y tế huyện Kiến T, thành phố Hải Phòng là con của anh và chị Thư, không phải con của ông Choe. Anh đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị M.
Tại Bản tự khai ông Choe Han B trình bày:
Ông và chị M kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Hàn Quốc, có ghi chú tại Sở Tư pháp Hải Phòng vào ngày 06/11/2015. Tuy nhiên, đến năm 2015 ông và chị M đã ly hôn theo Bản án số 174/2020/HNGĐ-ST ngày 26/11/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng. Ông và chị M không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Thời gian ông và chị M chưa ly hôn thì chị M có quan hệ tình cảm với anh Vũ Anh T và ngày 02/8/2016 chị M sinh bé trai có tên dự sinh là Vũ Hoàng T tại Trung tâm y tế huyện Kiến T, thành phố Hải Phòng. Ông khẳng định bé trai có tên dự sinh là Vũ Hoàng T sinh ngày 02/8/2016 là con của chị M và anh T, không phải con của ông. Bản tự khai của ông được chứng nhận/hợp pháp hóa lãnh sự của Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và xem xét ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng;
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện của chị Hoàng Thị M thì đây là vụ án tranh chấp về việc xác định cha cho con theo quy định tại khoản 4 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Choe Han B; địa chỉ: Hàn Quốc nên theo quy định tại khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị M, bị đơn anh T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Choe đều vắng mặt tại phiên tòa và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về nội dung:
Chị Hoàng Thị M và ông Choe Han B có đăng ký kết hôn tại Hàn Quốc và có ghi chú tại Sở Tư pháp Hải Phòng ngày 06/11/2015 nhưng đã ly hôn theo Bản án số 174/2020/HNGĐ-ST ngày 26/11/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng. Theo Bản án ly hôn thì chị M và ông Choe không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị M, anh T và ông Choe cùng xác nhận: Trong thời gian chị M chưa ly hôn với ông Choe, chị M có quan hệ tình cảm với anh T và ngày 02/8/2016, chị M sinh bé trai có tên dự sinh là Vũ Hoàng T tại Trung tâm y tế huyện Kiến T, thành phố Hải Phòng là con của chị M và anh T, không phải con của ông Choe.
Tại bản Kết quả xét nghiệm ADN số 210802.1 ngày 02/8/2021 của Công ty Cổ phần Công nghệ Gen ứng dụng Việt Nam về việc giám định ADN giữa anh Vũ Anh T và cháu trai có tên dự sinh Vũ Hoàng T, sinh ngày 02/8/2016; giấy chứng sinh tại Trung tâm y tế huyện Kiến T, thành phố Hải Phòng, ghi tên mẹ đẻ là chị Hoàng Thị M; cho kết quả anh Vũ Anh T và bé trai được lấy mẫu giám định có quan hệ huyết thống trực hệ cha - con.
Từ những căn cứ phân tích tại mục [3], [4], [5] có căn cứ xác định bé trai có tên dự sinh là Vũ Hoàng T do chị M sinh ra ngày 02/8/2016 có giấy chứng sinh tại Trung tâm y tế huyện Kiến T, thành phố Hải Phòng, ghi tên mẹ đẻ là chị Hoàng Thị M là con chung của chị M và anh T nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị M.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, Điều 228, Điều 238, khoản 1 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các điều 88, 91 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000;
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 12, khoản 1 và khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị M
1. Về xác định cha cho con: Công nhận anh Vũ Anh T là cha đẻ của cháu bé sinh ngày 02/8/2016 có tên dự sinh là Vũ Hoàng T do chị Hoàng Thị M sinh ra theo giấy chứng sinh tại Trung tâm y tế huyện Kiến T, thành phố Hải Phòng, ghi tên mẹ đẻ là chị Hoàng Thị M.
2. Về án phí: Anh Vũ Anh T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại chị M 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai số 0019925 ngày 19 tháng 8 năm 2021 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
3. Về quyền kháng cáo:
Chị M và anh T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Anh Choe Han B được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND TP Hải Phòng; - Cục THADS TP Hải Phòng; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Ngọc Dũng |