vanban.org

Bản án 163/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Hải Y đối với anh Trần Đ về việc ly hôn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Hải Y đƣợc ly hôn với anh Trần Đ. Về con chung: Buộc anh Trần Đ giao hai cháu Trần Hoàng Bảo Â, sinh ngày 21/8/2013 và Trần Hoàng Thiên Â, sinh ngày 21/8/2013 cho chị Hoàng Hải Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Hoàng Hải Y không yêu cầu an… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Huỳnh Hải Y khởi kiện anh Trần Đ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Hải Y đối với anh Trần Đ về việc ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 163/2018/HNGĐ-ST
Ngày 30-11-2018
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lại Thị Ngọc Liên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Minh

2. Ông Nguyễn Đình Thế.

- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Vân - Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Tuân - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 1014/2018/TLST-HNGĐ 20/9/2018 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 175/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2018, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Chị Hoàng Hải Y, sinh năm 1984; thƣờng trú: Số 96/2 khu phố T, phƣờng H, thị xã D, tỉnh B. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Trần Đ, sinh năm 1989; thƣờng trú: Phƣờng H, quận L, thành phố Đ; tạm trú: Số 383/2 khu phố T, phƣờng H, thị xã D, tỉnh B. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 17/9/2018 và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Hoàng Hải Y trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Sau thời gian tìm hiểu nhau khoảng 01 năm, chị Hoàng Hải Y và anh Trần Đ tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2012, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân phƣờng H, quận L, thành phố Đ vào ngày 09/4/2012, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 32, quyển số 01/2012. Sau khi kết hôn, chị Y và anh Đ sống tại phƣờng H, thị xã D, tỉnh B cho đến nay. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến khoảng cuối năm 2012 vợ chồng bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn do anh Trần Đ ham chơi, không chịu khó làm ăn. Sau khi chị Hoàng Hải Y sinh con anh Trần Đ vẫn không chịu tu chí làm ăn và còn sử dụng chất ma túy, ngày 29/01/2016 bị Tòa án nhân dân quận T, Thành phố M áp dụng biên pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, sau khi đi cai nghiện về anh Trần Đ vẫn không chịu thay đổi tính tình, không lo làm ăn để phụ giúp vợ nuôi dƣỡng hai con nên mâu thuẫn vợ chồng xảy ra trầm trọng hơn, vợ chồng thƣờng xuyên cãi nhau. Từ khi mâu thuẫn vợ chồng xảy ra gia đình hai bên đều biết và đã nhiều lần hàn gắn nhƣng không có kết quả. Từ tháng 01/2018 đến nay hai vợ chồng sống ly thân, mỗi ngƣời tự lo cuộc sống riêng không còn quan tâm chăm sóc gì nhau nữa. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị Hoàng Hải Y yêu cầu đƣợc ly hôn với anh Trần Đ.

Về con chung: Qúa trình sống chung vợ chồng có 02 con chung tên Trần Hoàng Bảo Â, sinh ngày 21/8/2013 và Trần Hoàng Thiên Â, sinh ngày 21/8/2013. Sau khi ly hôn, chị Hoàng Hải Y yêu cầu đƣợc trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng hai con chung và tự nguyện không yêu cầu anh Trần Đ cấp dƣỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Trần Đ đã đƣợc Tòa án thông báo tham gia tố tụng, tống đạt các văn bản tố tụng nhƣng anh Trần Đ không đến Tòa án làm việc, không cung cấp lời khai, không có yêu cầu phản tố nào, không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã D tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Tòa án và nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn không chấp hành theo quy định tại Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định. Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về sự vắng mặt của các đƣơng sự: Ngày 24/10/2018, nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mă ̣t. Bị đơn đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa vào các ngày 12/11/2018 và ngày 30/11/2018 nhƣng bị đơn vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Hải Y và anh Trần Đ đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng H, quận L, thành phố Đ vào ngày 09/4/2012, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 32, quyển số 01/2012 là hôn nhân hợp pháp. Chị Hoàng Hải Y cho rằng cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến khoảng cuối năm 2012 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vấn đề kinh tế, anh Trần Đ ham chơi, không lo lắng làm ăn. Sau khi đi cai nghiện ma túy về anh Trần Đ vẫn không chịu thay đổi tình tình, không lo làm ăn để phụ giúp vợ nuôi dƣỡng hai con nên mâu thuẫn vợ chồng xảy ra trầm trọng hơn, vợ chồng thƣờng xuyên cãi nhau. Từ tháng 01/2018 đến nay hai vợ chồng sống ly thân, mỗi ngƣời tự lo cuộc sống riêng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau nữa. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án và nhiều lần triệu tập anh Trần Đ đến làm việc và hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhƣng anh Trần Đ không đến Tòa án, điều này chứng tỏ tình cảm vợ chồng của chị Yến và anh Đ thực sự không còn, tình trạng hôn nhân đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Vì vậy, chị Y yêu cầu đƣợc ly hôn với anh Đ là có căn cứ, phù hợp với quy định của Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Sau khi ly hôn, chị Hoàng Hải Y yêu cầu đƣợc trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng 02 con chung tên Trần Hoàng Bảo Â, sinh ngày 21/8/2013 và Trần Hoàng Thiên Â, sinh ngày 21/8/2013 và không yêu cầu anh Đ cấp dƣỡng nuôi con. Xét thấy, trong thời gian trƣớc đây và hiện nay con chung do chị Y trực tiếp nuôi dƣỡng và đảm bảo tốt về mọi mặt. Mặt khác các cháu hiện còn nhỏ cần sự chăm sóc của ngƣời mẹ. Do đó, chị Y yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung là phù hợp với các Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình. Chị Y không yêu cầu anh Đ cấp dƣỡng nuôi con, xét đây là ý chí tự nguyện của chị nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã D, tỉnh B.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Hoàng Hải Y phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Hải Y đối với anh Trần Đ về việc ly hôn.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Hải Y đƣợc ly hôn với anh Trần Đ.

- Về con chung: Buộc anh Trần Đ giao hai cháu Trần Hoàng Bảo Â, sinh ngày 21/8/2013 và Trần Hoàng Thiên Â, sinh ngày 21/8/2013 cho chị Hoàng Hải Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Hoàng Hải Y không yêu cầu anh Trần Đ cấp dƣỡng nuôi con.

Sau ly hôn, chị Y và anh Đ đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Trƣờng hợp anh Đ lạm dụng việc đi lại, thăm nom con gây ảnh hƣởng xấu đến việc chị Y nuôi con thì chị có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh theo quy định của pháp luật. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đƣơng sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và việc cấp dƣỡng.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Hoàng Hải Y phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0020173, ngày 20/9/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã D, tỉnh B.

3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.

4. Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ