vanban.org

Bản án 1623/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Thi hành tại cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

Về án phí: Ông LHK phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 27.515.469 (Hai mươi bảy triệu năm trăm mười lăm nghìn bốn trăm sáu mươi chín) đồng. Hoàn lại cho Ngân hàng TMCP V số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 10.883.616 (Mười triệu tám trăm tám mươi ba nghìn sáu trăm mười sáu) đồng theo biên lai thu số 006… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Thi hành tại cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
  • Căn cứ chính? Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 1623/2025/DS-ST
Ngày: 24-9-2025
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Thành Lộc

2/ Bà Lương Thị Kim Nghĩa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thanh Hương - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Thu Thảo - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 599/2025/TLST-DS ngày 12 tháng 6 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 538/2025/QĐXXST–DS ngày 12 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 513/2025/QĐST-DS ngày 05 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V.

Địa chỉ: số aa LH, phường Đ (tên cũ: phường LH, quận Đ), Thành phố N. Đại diện theo uỷ quyền: Ông NVT (theo Văn bản uỷ quyền số 1823/2025/VBUQ-VPB). (Có đơn yêu cầu vắng mặt)

2. Bị đơn: Ông LHK, sinh năm: 19xx (Vắng mặt).

Địa chỉ: bb Lô bb, Chung cư TT, đường LT, phường TT (tên cũ: phường TTA, quận BT), Thành phố H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện nộp cho Tòa án cũng như quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Ngân hàng TMCP V trình bày:

Ngân hàng TMCP V (sau đây gọi tắt là VBank) có ký với ông LHK Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử số DSA/VN0010325/12/39 (số hợp đồng trên hệ thống LN2312281391924) ngày 27/12/2023, cụ thể như sau: số tiền vay 390.000.000 đồng ; Thời hạn vay: 60 tháng; Lãi suất trong hạn tại thời điểm phát vay: tối đa 25%/năm được cố định từ ngày giải ngân đến kỳ điều chỉnh lãi suất gần nhất chưa đủ 03 tháng, sau đó điều chỉnh 03 tháng/01 lần với biên độ điều chỉnh tối đa là 8% theo biểu lãi suất tham chiếu; Mục đích vay: vay tiêu dùng. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông LHK đã thanh toán cho VBank tổng số tiền là 335.154 đồng, bao gồm: 129 đồng tiền gốc và 335.025 đồng tiền lãi. Từ ngày 05/02/2024, ông LHK đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ vay cho VBank. Mặc dù, ngân hàng đã tạo điều kiện về thời gian cho ông LHK trả nợ nhưng vẫn không có phương án trả dứt nợ cho ngân hàng. Ngày 05/02/2024 VBank chuyển toàn bộ khoản vay sang nợ quá hạn và thông báo chấm dứt việc thực hiện đối với hợp đồng cho vay trên. Nay VBank yêu cầu: Buộc ông LHK phải trả ngay một lần, toàn bộ số tiền nợ cho VBank tính đến ngày 24/9/20225 là 587.886.715 (Năm trăm tám mươi bảy triệu tám trăm tám mươi sáu nghìn bảy trăm mười lăm) đồng, trong đó nợ gốc là 374.010.566 đồng; nợ lãi là 213.876.149 đồng. Ông LHK còn phải tiếp tục chịu nợ lãi phát sinh theo đúng thỏa thuận trong văn bản tín dụng nêu trên từ ngày 25/9/2025 cho đến khi thanh toán hết nợ cho VBank. Yêu cầu toàn bộ các khoản nợ ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Án phí sơ thẩm: ông LHK phải chịu theo quy định. Bị đơn ông LHK đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo hòa giải và công khai chứng cứ để đến Tòa án giải quyết vụ kiện, nhưng ông K vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không gửi cho Tòa án ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tại phiên tòa:

- Đại diện nguyên đơn VBank có đơn xin vắng mặt; Bị đơn ông LHK vắng mặt không lý do.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa có ý kiến như sau: Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về: Thụ lý vụ án, xác định thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, xác minh thu thập chứng cứ, Thông báo tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải, tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự và các thủ tục tố tụng tại phiên tòa. Đương sự: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền nghĩa vụ tố tụng theo quy định. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ, quá trình giao dịch qua tài khoản thẻ của ông LHK có cơ sở xác định ông LHK còn nợ VBank số tiền tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm ngày 24/9/20225 là 587.886.715 đồng, trong đó nợ gốc là 374.010.566 đồng; nợ lãi là 213.876.149 đồng. Do đó, nay Ngân hàng yêu cầu ông K trả nợ gốc, lãi và tiền lãi phát sinh từ ngày 25/9/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng là có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn VBank khởi kiện yêu cầu bị đơn ông LHK trả số tiền vay theo hợp đồng tín dụng nên đây là tranh chấp hợp đồng dân sự được quy định tại Khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông LHK có địa chỉ cư trú tại phường TT nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về thủ tục tố tụng: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin vắng mặt; Bị đơn ông LHK đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn không tham gia cũng không có người đại diện tham gia phiên tòa, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

. Về yêu cầu của đương sự: Xét việc Ngân hàng TMCP V yêu cầu ông LHK trả cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm 24/9/2025 là 587.886.715 (Năm trăm tám mươi bảy triệu tám trăm tám mươi sáu nghìn bảy trăm mười lăm) đồng, trong đó nợ gốc là 374.010.566 đồng; nợ lãi là 213.876.149 đồng và khoản lãi phát sinh từ ngày 25/9/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng. Hội đồng xét xử xét thấy:

Ông LHK đã được tống đạt thông báo thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng nhưng vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc, cũng như tại phiên tòa và cũng không có văn bản gửi cho Tòa án trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên xem như ông K tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ chứng minh và cung cấp chứng cứ của mình theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và các tài liệu chứng cứ khác do Tòa án thu thập được để xem xét giải quyết vụ án.

Theo tài liệu, chứng cứ do VBank cung cấp thì ông LHK có ký với Ngân hàng TMCP V Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở & sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử số DSA/VN0010325/12/39 ngày 27/12/2023

Căn cứ Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở & sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử số DSA/VN0010325/12/39 ngày 27/12/2023 cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện giữa VBank và ông K có giao kết hợp đồng vay tài sản thông qua hợp đồng tín dụng số tiền vay 390.000.000 đồng (trong đó số tiền vay phục vụ đời sống là 374.010.695 đồng, số tiền vay mua bảo hiểm là 15.989.305 đồng); Thời hạn vay: 60 tháng, gốc và lãi trả định kỳ mỗi tháng 01 lần, tổng cộng 60 kỳ, ngày trả nợ gốc và lãi đầu tiên là 05/02/2024. Lãi suất trong hạn tại thời điểm phát vay: tối đa 25%/năm được cố định từ ngày giải ngân đến kỳ điều chỉnh lãi suất gần nhất chưa đủ 03 tháng, sau đó điều chỉnh 03 tháng/01 lần với biên độ điều chỉnh tối đa là 8% theo biểu lãi suất tham chiếu; Mục đích vay: vay tiêu dùng. Thực hiện hợp đồng vay thì ngày 29/12/2023 VBank đã giải ngân cho ông K. Quá trình thực hiện hợp đồng đến nay ông LHK đã thanh toán cho VBank tổng số tiền là 335.154 đồng, bao gồm: 129 đồng tiền gốc và 335.025 đồng tiền lãi. Như vậy, việc ông K không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ vay đối với VBank. Do đó, Ngày 05/02/2024 VBank đã chuyển toàn bộ khoản vay sang nợ quá hạn và thông báo chấm dứt việc thực hiện đối với hợp đồng cho vay trên và yêu cầu ông LHK thanh toán đầy đủ các khoản vay và lãi phát sinh trên, trả một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở chấp nhận. [4]. Về ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên Tòa là có căn cứ và cũng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận. [5]. Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông LHK phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hoàn lại cho Ngân hàng TMCP V tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 147, điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Khoản 2 Điều 91, Khoản 1 Khoản 2 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự; Tuyên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V: Buộc ông LHK có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm ngày 24/9/2025 là 587.886.715 (Năm trăm tám mươi bảy triệu tám trăm tám mươi sáu nghìn bảy trăm mười lăm) đồng, trong đó nợ gốc là 374.010.566 đồng; nợ lãi là 213.876.149 đồng. Trả một lần toàn bộ số tiền trên ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ông LHK còn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh trên dư nợ gốc tính từ ngày 25/9/2025 cho đến khi ông K trả hết số nợ trên theo mức lãi suất thỏa thuận tại Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở & sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử số DSA/VN0010325/12/39 ngày 27/12/2023.

Thi hành tại cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

2. Về án phí: Ông LHK phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 27.515.469 (Hai mươi bảy triệu năm trăm mười lăm nghìn bốn trăm sáu mươi chín) đồng. Hoàn lại cho Ngân hàng TMCP V số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 10.883.616 (Mười triệu tám trăm tám mươi ba nghìn sáu trăm mười sáu) đồng theo biên lai thu số 0061189 ngày 24/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5 (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3), Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ