vanban.org

Bản án 162/HSST — Hình sự

TAND huyện Đông Anh, TP. Hà Nội Tuyên án 26/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Ngô Quang T, Đà m Việ t Đ, Nguyễ n Kim Đ và Kiều Văn T phạm tội “Cố ý Gây thương tích”.

Điểm đ khoản 2 (thuộc điểm a khoản 1) Điều 134; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 584, Điều 585 và Điều 590 Bộ luật Dân sự, Xử phạt: Ngô Quang T 33 (ba mươi ba) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tí… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Quang T và đồng phạm - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Ngô Quang T, Đà m Việ t Đ, Nguyễ n Kim Đ và Kiều Văn T phạm tội “Cố ý Gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG ANH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-----------------
Bản án số: 162/2018/HSST
Ngày: 26/10/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phi Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Đệ.

Ông Dương Xuân Thìn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thịnh Quang Trung - Thẩm tra viên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Lê Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân huyện Đông Anh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 164/2018/HSST ngày 02/10/2018 đối với các bị cáo:

1. Họ tên: Ngô Quang , sinh năm 1992; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Thôn X, xã Y, huyện G, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Lê Quang T; Con bà: Lê Thị T; Tiền án, tiền sự:

- Ngày 26/7/2010, Công an thị trấ n Y, huyện G, Thành phố Hà Nội xử p hạt hành chính về hành vi “T rộ m cắ p tà i sả n ”.

- Ngày 21/10/2010, Tòa án nhân dân huyệ n Đ, Thành phố Hà Nội, tuyên phạ t 09 tháng tù về tội “T rộ m cắ p tà i sả n ”. Chấ p hà nh xong á n phạ t tù ngà y 16/5/2011. (Phạm tội khi chưa đủ 18 tuổ i nên đượ c coi là không có á n tí ch)

- Ngày 15/8/2013, Tòa án nhân dân huyệ n Đ, Thành phố Hà Nội, tuyên phạ t 36 tháng tù về tộ i “Mua bá n t rái phép chất ma túy ”. Chấ p hà nh xon g á n phạ t tù ngày 22/5/2016 (chưa được xóa án tích).

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 12/7/2018. Hiện đang bị tạ m giam tạ i Trạ i tạ m giam số 1 – CATP Hà Nộ i . Số giam : 3521Q1/20 - Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ tên: Đàm Việt Đ, sinh năm 1992; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Thôn X, xã Y, huyện G, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Đàm Văn H; Con bà: Trần Thị L; Tiền án, tiền sự:

- Ngày 21/4/2009, đi trườ ng giá o dưỡ ng , thờ i hạ n 12 tháng .

- Ngày 26/7/2010, Công an thị trấ n Y , huyện G, Thành phố Hà Nội xử p hạt hành chính về hành vi “T rộ m cắ p tà i sả n ”.

- Ngày 09/11/2010, Tòa án nhân dân huyệ n Đ , Thành phố Hà Nội tuyên phạt 09 tháng tù về tội “T rộ m cắ p tà i sả n ”. Chấ p hà nh xong á n phạ t tù ngà y 10/7/2011 (Phạm tội khi chưa đủ 18 tuổ i nên đượ c coi là không có á n tí ch )

- Ngày 02/9/2011, Tòa án nhân dân huyệ n G , Thành phố Hà Nội xử phạ t 20 tháng tù giam về tội “Trộ m cắ p tà i sả n ”. Chấ p hà nh xong á n phạ t tù ngà y 02/5/2013. Nộp án phí ngày 07/5/2012(chưa được xóa án tích).

- Ngày 03/10/2018, Tòa án nhân dân huyệ n C, Thành phố Hà Nộ i, xử phạt bị cáo 18 tháng tù về tội “Trộ m cắ p tà i sả n” (bản án chưa có hiệu lực pháp luật). Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn : Cấ m đi khỏ i nơi cư trú , tạm hoãn xuất cảnh - Có mặt tại phiên tòa. 3. Họ tên: Nguyễn Kim Đ, sinh năm 1993; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Tổ 1, phường G, quận L, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Kim Q; Con bà: Cam Thị N: Tiền án, tiền sự:

- Ngày 23/3/2017, Uỷ ban nhân dân phườ ng G , quận L, Thành phố Hà Nội, ra Quyế t đị nh á p dụ ng biệ n phá p giá o dụ c tạ i phườ ng , thờ i gian 03 tháng .

- Ngày 22/5/2018, Tòa án nhân dân quậ n L , Thành phố Hà Nội ra Quyế t đị nh á p dụ ng biệ n phá p xử lý hà nh chí nh đưa và o cơ sở cai nghiệ n bắ t buô, thợ c ̀ i gian 20 tháng - Có mặt tại phiên tòa. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn : Cấ m đi khỏ i nơi cư trú , tạm hoãn xuất cảnh - Có mặt tại phiên tòa 4. Họ tên: Kiều Văn T, sinh năm 1995; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Tổ 6, phường P, quận L, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Kiều Văn T; Con bà: Nguyễn Thị S; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn : Cấ m đi khỏ i nơi cư trú , tạm hoãn xuất cảnh - Có mặt tại phiên tòa - Có mặt tại phiên tòa. Người bị hại: Anh Nguyễn Đức H, sinh năm 1985, trú tại: Thôn Du N, xã M, huyện Đ, Thành phố Hà Nội - Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: [1]. Khoảng 20h00’ ngày 03/11/2017, Nguyễn Kim Đ và Kiều Văn T đến nhà Ngô Quang T ăn cơm sau đó gặp Đà m Việ t Đ (bạn cùng thôn vớ i T ). Khoảng 22h00’cùng ngày, sau khi ăn xong, Đàm Việt Đ điề u khiể n xe má y Yamaha Nouvo, không rõ biể n kiểm soát (Đ mượ n của bạn ) chở Nguyễn Kim Đ và Kiều Văn T, Ngô Quang T mộ t mình điều khiển xe máy Honda DreamII, BKS: 29H4-8112 (xe mô tô của Nguyễn Kim Đ) đi dạo chơi. Khi đến đường Quốc lộ 3, thấy xe máy non hơi nên Nguyễn Quang T điều khiển xe đi vào cửa hàng củ a gia đì nh anh Nguyễ n Đứ c H , sinh năm 1985 ở thôn D, xã M, huyện Đ thuê bơm xe, nhưng anh H đã nghỉ, không làm. Bực tức, Nguyễn Quang T chửi và đẩ y đổ biển hiệ u cửa hàng của anh H để trướ c cử a quá n . Thấy vậy, anh H vào nhà lấ y 01 thanh mã tấ u đuổi Tú chạ y và o chợ M trốn, nên không đánh được. Sau đó, Đàm Việt Đ điề u khiể n xe m áy Nouvo vào khu vực chợ M đón và chở Nguyễn Quang T đi về hướ ng t hị trấn Đ. Anh H về cửa hàng , mộ t mì nh điều khiển xe má y Honda Wave , BKS: 29L1-008.80, cầm mã tấu đuổ i theo mục đích đánh Nguyễn Quang T. Thấy vậy, Kiều Văn T điề u khiể n xe má y Honda Dream II , BKS 29H4-8112 chở Nguyễn Kim Đ đi theo anh Nguyễn Đức H. Đàm Việt Đ thấy anh H đuổi theo liền tạt xe máy vào ven đường, dừ ng trướ c cổ ng Công ty Cổ phầ n Đ úc M. Nguyễn Quang T nhặ t 02 viên gạch mẩu ở ven đườ ng mục đích tấ n công anh Nguyễn Đức H. Anh H điề u khiể n xe má y vượ t qua Nguyễn Quang T và Đàm Việt Đ khoảng 07 mét, rồi vò ng xe quay lạ i . Khi anh H đi đến (cách khoảng 05 mét), Nguyễn Quang T cầ m mẩ u gạ ch ở tay phải đứng đối diện né m 01 phát trú ng cá nh tay phả i , làm anh H mấ t lá i , đổ xe, ngã. Nguyễn Quang T tiế p tụ c nhặ t 01 mẩ u gạ ch , cầm ở tay phải ném tr úng thái dương trá i anh H . Đàm Việt Đ nhặ t 02 viên gạch mẩu ở ven đường , cầ m ở tay phải ném 02 phát về phía anh H nhưng không trú n g. Nguyễn Kim Đ nhặ t 01 mẩ u gạ ch ở ven đườ ng , cầm ở tay phải chạy đến (cách khoảng 07 mét) ném 01 phát t rúng vùng mặt , làm anh H ngã. Kiều Văn T cũng nhặ t 01 mẩ u gạ ch ở ven đườ ng , cầm ở tay phải chạy đến (cách khoảng 02 mét) ném 01 phát trúng ngườ i anh Nguyễn Đức H. Sau đó, anh H chạy ra giữa đường QL 3, Kiều Văn T tiế p tụ c nhặ t 01 mẩ u gạ ch , cầ m ở tay phả i ném theo an h H, nhưng không trúng . Thấy nhóm của Nguyễn Quang T đông người, anh H vứ t mã tấ u ở ven đườ ng Quố c lộ 3, chạy và o quán nhà ông Nguyễn Văn Đ , sinh năm 1960; Trú tại: thôn Đồng D , xã D, huyện Đ trốn. Nguyễn Quang T, Đàm Việt Đ, Nguyễn Kim Đ và Kiều Văn T không đuổi đánh anh Nguyễn Đức H nữa, lấy xe máy bỏ đi. Anh H bị thương đế n Bệ nh việ n đa khoa Đứ c Giang cấ p cứ u và điề u trị

.

[2]. Bệ nh á n ngoại khoa bệnh viện Đức Giang xá c đị nh thương t

ích củ a anh Nguyễ n Đứ c H như sau: 01 vết thương vùng đỉnh khoảng 03cm; 02 vết thương thái dương trái , kích thước khoảng 3cm; nhiều vết thương xây sát vùng khuỷ u tay, gối hai bên.

[3]. Tại bản kết luận giám định Pháp y số

38/TTPY ngày 17/01/2018 của Trung tâm phá p y Thành phố Hà Nộ i

kế t luậ n tổn hại sức khỏe của anh Nguyễn Đức H như sau:

- Các sẹo vết thương : 05%

- Gãy cung tiếp gò má trái : 08%

- Nhiề u khả năng cá c thương tí ch do vậ t tà y , tày có cạnh gây nên .

Tỷ lệ tổn hại sức khỏe : 13 % (mười ba phần trăm )

[4]. Vậ t chứ ng tạ m giữ : Của ông Nguyễ n Văn D (Trưởng Công an xã M ): 01 mã tấu dài 57cm, chuôi bằ ng gỗ dà i 13cm, lưỡ i bằ ng kim loạ i , bản rộ ng nhấ t 06cm, mũi nhọn . Ông Nguyễn Văn D trình bày : Công an xã M phát hiện , tạm giữ tạ i hiệ n trườ ng vụ á n ngà y 03/11/2017. [5]. Về trách nhiệm bồi thường dân sự :

- Ngày 29/6/2018, Kiề u Văn T đã tự nguyện bồ i thườ ng 20.000.000 đồ ng cho anh Nguyễ n Đứ c H . Sau khi nhậ n tiề n , anh H có đơn đề nghị miễn truy cứ u trá ch nhiệ m hì nh sự cho Kiều Văn

T, không yêu cầu Kiều Văn T bồi thường thêm.

- Anh Nguyễn Đức H tiếp tục yêu cầ u cá c bị cáo Ngô Quang T, Đà m Việ t Đ và Nguyễn Kim Đ bồ i thườ ng tổng số tiền là 30.000.000 đồ ng. Trong đó kỷ phần của mỗi bị cáo là 10.000.000 đồng. [6]. Tại bản cáo trạng số 161/CT - VKS ngày 02/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh đã truy tố các bị cáo Ngô Quang T, Đà m Việ t Đ , Nguyễ n Kim Đ và Kiều Văn T về tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 (thuộc điểm a khoản 1) Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015. Trong phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và kết luận các bị cáo Ngô Quang T, Đà m Việ t Đ ; Nguyễ n Kim Đ và Kiều Văn T đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm đ khoản 2 (thuộc điểm a khoản 1) Điều 134; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 584, Điều 585 và Điều 590 Bộ luật Dân sự. + Xử phạt Ngô Quang T từ 36 đến 40 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; Buộc bị cáo bồi thường cho anh Nguyễn Đức H 10.000.000 đồng.

- Áp dụng điểm đ khoản 2 (thuộc điểm a khoản 1) Điều 134; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 584, Điều 585 và Điều 590 Bộ luật Dân sự. + Xử phạt Đàm Việt Đ từ 30 đến 32 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; Buộc bị cáo bồi thường cho anh Nguyễn Đức H 10.000.000 đồng. + Xử phạt Nguyễn Kim Đ từ 30 đến 32 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; Buộc bị cáo bồi thường cho anh Nguyễn Đức H 10.000.000 đồng.

- Áp dụng điểm đ khoản 2 (thuộc điểm a khoản 1) Điều 134; Điều 38, điểm b và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. + Xử phạt Kiều Văn T từ 24 đến 26 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; [7]. Tại phiên tòa anh Nguyễn Đức H yêu cầu mỗi bị cáo phải bồi thường cho anh 20.000.000 đồng tiền tổn hại sức khỏe, tổn hại về tinh thần, tiền mất thu nhập và tiền chi phí khám chữa bệnh, tiền chi phí đi lại khám chữa bệnh cũng như tiền chi phí bồi dưỡng sức khỏe trong thời gian điều trị thương tích. Anh Nguyễn Đức H xác nhận Kiều Văn T đã tự nguyện bồ i thườ ng 20.000.000 đồ ng. Tuy nhiên do anh tự xét thấy các bị cáo đều có hoàn cảnh khó khăn nên anh chỉ yêu cầu các bị cáo Ngô Quang T, Đà m Việ t Đ ; Nguyễ n Kim Đ , mỗi bị cáo phải bồi thường cho anh số tiền là 10.000.000 đồng.

Tại Cơ quan Điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo Ngô Quang T, Đà m Việ t Đ ; Nguyễ n Kim Đ và Kiều Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu, không kêu oan sai và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho mình một phần hình phạt.

Các bị cáo đều đồng ý về việc bồi thường dân sự theo mức yêu cầu của anh Nguyễn Đức H tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Khoảng 20h00’ ngày 03/11/2017, tại Quốc lộ 3 khu vục thôn D, xã M, huyện Đ, Thành phố Hà Nội các bị cáo: Ngô Quang T, Đàm Việt Đ, Nguyễn Kim Đ và Kiều Văn T đã thực hiện hành vi sử dụng gạch vỡ nhặt ở vên đường quốc lộ 3 để gây thương tích cho anh Nguyễn Đức H với tỷ lệ tổn hại sức khỏe là 13 %.

Theo hướng dẫn tại điểm c mục 2.2 phần I Nghị quyết 02/2003 ngày 17/4/2003 và điểm 3.1 mục 3 Nghị quyết 01/2006 ngày 12/5/2006 của HĐTP – TANDTC thì “gạch vỡ” là hung khí nguy hiểm.

Các bị cáo là người đã thành niên nên buộc phải nhận thức được hành vi của mình về việc sử dụng hung khí nguy hiểm để gây thương tích cho người khác là nguy hiểm cho xã hội, bị Nhà nước quy định là tội phạm nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi dùng gạch vỡ để gây thương tích cho người khác. Hậu quả là anh Nguyễn Đức H bị tổn hại sức khỏe với tỷ lệ thương tích là 13%.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại sức khỏe vµ đe dọa xâm hại tính mạng của công dân được pháp luật bảo vệ, cũng như trật tự nơi công cộng, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến sinh hoạt bình thường của nơi dân cư.

Như vậy hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 (thuộc điểm s khoản 1) Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, như kết luận của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Bởi vậy đối với bị cáo cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và mới đủ tác dụng trừng trị, cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như có tác dụng phòng ngừa chung.

. Về nhân thân của bị cáo:

- Ngô Quang T có 02 tiền án: Ngày 21/10/2010, Tòa án nhân dân huyệ n Đ , Thành phố Hà Nội, xử phạt 09 tháng tù về tội “T rộ m cắ p tà i sả n ”. Bị cáo đã chấ p hành xong hình phạt tù ngày 16/5/2011. Đối với bản án này khi bị cáo phạ m tộ i chưa đủ 18 tuổ i nên đư ợc coi là không có án tích ; Ngày 15/8/2013, Tòa án nhân dân huyệ n Đ, Thành phố Hà Nội, xử phạt 36 tháng tù về tộ i “Mua bá n trá i phé p chấ t ma tú y ”.

- Đàm Việt Đ: Có nhiều tiền án, tiền sự, mặc dù đã được xóa và 01 hành vi “Trộ m cắ p tà i sả n ”: Ngày 03/10/2018, Tòa án nhân dân huyệ n C , Thành phố Hà Nộ i, xử phạt bị cáo 18 tháng tù về tội “Trộ m cắ p tà i sả n ” (bản án chưa có hiệu lực pháp luật).. Như vậy xác định bị cáo là người có nhân thân xấu.

- Nguyễn Kim Đ: có 02 tiền sự đã được xóa.

- Kiều Văn T: Không có tiền án tiền sự. [3]. Các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: + Ngô Quang T: Ngày 15/8/2013, Tòa án nhân dân huyệ n Đ, Thành phố Hà Nội, xử phạt 36 tháng tù về tộ i “Mua bá n trá i phé p chấ t ma tú y

”. Bị cáo đã chấ p hà nh xon g á n phạ t tù ngà y 22/5/2016, như vậy xác định bản án này chưa được xóa án tích và lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015. + Các bị cáo Đàm Việt Đ, Nguyễn Kim Đ và Kiều Văn T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra bị cáo Kiều Văn T đã tự nguyện khắc phục hậu quả và đã bồi thường cho anh Nguyễn Đức H 20.000.000 đồng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. [4] Về xử lý vật chứng:

- Qua xác minh xác định: Thanh mã tấ u tạ m giữ củ a ông Nguyễ n Văn D là của anh Nguyễ n Đứ c H . Anh H khai mua mã tấ u tạ i Lạ ng Sơn năm 2012 mang về nhà , mục đích phòng t hân. Ngày 03/11/2017, anh H sử dụng mã tấ u trên , mục đích dùng làm hung khí đánh T , nhưng không đánh được. Hành vi của Nguyễ n Đứ c H vi phạ m điể m d khoả n 3 Điề u 10 Nghị định 167/NĐ - CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ , ngày14/9/2018, Công an huyệ n Đông Anh xử phạ t vi phạm hành chính . Xét thấy đây là tang vậ t của vụ việc vi phạ m hà nh chí nh , Cơ quan Điề u tra tiế p tụ c tạ m giữ để xử lý theo quy định .

- Đối với số gạch mẩu các bị cáo Ngô Quang T, Đà m Việ t Đ , Nguyễ n Kim Đ và Kiều Văn T sử dụng gây thương tí ch cho anh Nguyễn Đức H: Các bị c áo khai nhặ t ở ven đường Quốc lộ 3 thuộ c D, xã M, huyện Đông Anh. Sau khi sự việc xảy ra, Cơ quan Điề u trađã tổ chức truy tìm nhưng không thu giữđượ c. [5]. Về trách nhiệm dân sự:

- Ngày 29/6/2018, Kiề u Văn T đã tự nguyện bồ i thườ ng 20.000.000 đồ ng cho anh Nguyễ n Đứ c H . Tại phiên tòa Kiề u Văn T vẫn giữ nguyên quan điểm tự nguyện bồi thường cho anh Nguyễ n Đứ c H số tiền 20.000.000 đồ ng, do vậy ghi nhận sự tự nguyện của Kiều Văn T.

- Tại phiên tòa anh Nguyễn Đức H và các bị cáo Ngô Quang T, Đà m Việ t Đ, Nguyễ n Kim Đ đã tự nguyện thỏa thuận về mức bồ i thườ ng tổn hại về sức khỏe với kỷ phần của mỗi bị cáo là 10.000.000 đồng. Xét thấy các bên đã tự nguyện thỏa thuận nên cần được ghi nhận và buộc các bị cáo phải bồi thường cho anh Nguyễn Đức H theo quy định tại Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015 và các Điều 584, Điều 585 và Điều 590 Bộ luật Dân sự.

Về án phí sơ thẩm:

- Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

- Mỗi bị cáo: Ngô Quang T, Đà m Việ t Đ và Nguyễ n Kim Đ phải chịu 5% x 10.000.000 đồng = 500.000 đồng án phí bồi thường dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 23 và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố các bị cáo Ngô Quang T, Đà m Việ t Đ, Nguyễ n Kim Đ và Kiều Văn T phạm tội “Cố ý Gây thương tích”.

2. Căn cứ vào:

- Điểm đ khoản 2 (thuộc điểm a khoản 1) Điều 134; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 584, Điều 585 và Điều 590 Bộ luật Dân sự, Xử phạt: Ngô Quang T 33 (ba mươi ba) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/7/2018.

Buộc bị cáo bồi thường cho anh Nguyễn Đức H 10.000.000 (mười triệu) đồng.

- Điểm đ khoản 2 (thuộc điểm a khoản 1) Điều 134; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 584, Điều 585 và Điều 590 Bộ luật Dân sự:

+ Xử phạt: Đàm Việt Đ 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Buộc bị cáo bồi thường cho anh Nguyễn Đức H 10.000.000 (mười triệu) đồng.

+ Xử phạt: Nguyễn Kim Đ 27 (hai mươi bảy) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án. Buộc bị cáo bồi thường cho anh Nguyễn Đức H 10.000.000 (mười triệu) đồng.

- Điểm đ khoản 2 (thuộc điểm a khoản 1) Điều 134; Điều 38, điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt: Kiều Văn T 24(hai mươi bốn) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án. 3. Căn cứ vào:

- Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Khoản 1 Điều 23 và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Án phí:

- Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Các bị cáo: Ngô Quang T, Đà m Việ t Đ và Nguyễ n Kim Đ, mỗi bị cáo phải chịu 500.000 (năm trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Đức H cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ