vanban.org

Bản án 162/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do nguyên nhân khác

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị V đối với bị đơn ông Phạm Văn T về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị V được ly hôn với ông Phạm Văn T (Giấy chứng nhận kết hôn số 28, quyển số 01/2001, tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện H, tỉnh Thái Bình ngày 09 th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nguyên nhân khác — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị V"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 162/2026/HNGĐ-ST
Ngày 17/4/2026.
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Linh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thu Vân và bà Nguyễn Thị Bửu Huệ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Anh Ly - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thanh Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 678/2025/TLST – HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2026/QĐXXST–HNGĐ ngày 24/02/2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 74/QĐST- HNGĐ ngày 17/3/2026, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị V, sinh năm 1979; địa chỉ: Tổ A khu phố T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Bị đơn: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1977; địa chỉ: Số A tổ A khu phố T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện nộp tại tòa và lời khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Lê Thị V trình bày: Bà Lê Thị V và ông Phạm Văn T đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 28 quyển số 01/2001, tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện H, tỉnh Thái Bình ngày 09 tháng 6 năm 2001. Sau một thời gian chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, vợ chồng không tôn trọng nhau, không có tiếng nói chung trong gia đình. Bà V xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên yêu cầu được ly hôn với ông T.

Về con chung: Bà V và ông T có 03 con chung tên Phạm Thị Lan A, sinh ngày 30/6/2001; Phạm Hùng T1, sinh ngày 24/02/2007; Phạm Hồng P, sinh ngày 29/02/2016. Hiện con chung tên Lan A, Hùng T1 đã đủ tuổi thành niên không thuộc trường hợp phải cấp dưỡng nuôi con, bà không yêu cầu giải quyết. Khi ly hôn bà V yêu cầu là người trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục con chung tên Phạm Hồng P và không yêu cầu ông T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Phạm Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ trong suốt quá trình tố tụng, nhưng vắng mặt không lý do, đồng thời cũng không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị V.

Ngày 01/12/2025 Tòa án xác minh tình trạng hôn nhân, quá trình chung sống và vấn đề chăm sóc nuôi dạy con chung giữa bà V, ông T hội phụ nữ phường T và được cung cấp như sau: Bà V, ông T không phải là thành viên hội phụ nữ phường. Trước khi khởi kiện ly hôn tại Toà án các đương sự không có yêu cầu địa phương tổ chức hòa giải cơ sở. Hội Liên hiệp phụ nữ phường cũng không tiếp nhận thông tin cung cấp từ đại diện khu phố cũng như người dân phản ảnh. Vì vậy, Hội liên hiệp phụ nữ phường không rõ nguyên nhân mâu thuẫn và vấn đề chăm sóc nuôi dạy con chung giữa bà V, ông T. Đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án theo quy định.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn, nguyên đơn.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà V, ông T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn bà Lê Thị V khởi kiện tranh chấp ly hôn, nuôi con với ông Phạm Văn T hiện đang cư trú tại số A tổ A, khu phố T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh, do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn bà V có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải; bị đơn ông T đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ các Điều 207, 227 và 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án không tiến hành hòa giải được và Tòa án xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị V và ông Phạm Văn T đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 28, quyển số 01/2001, tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện H, tỉnh Thái Bình ngày 09 tháng 6 năm 2001, nên hôn nhân giữa bà V và ông T là hợp pháp.

Quá trình tố tụng bà V xác định cuộc sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, không tôn trọng nhau. Bà V xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với ông Phạm Văn T.

Xét, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc; để đạt được mục đích đó vợ chồng cần phải thương yêu, tin tưởng, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Bà V xác định quan hệ hôn nhân giữa bà và ông T có nhiều mâu thuẫn, cả hai đều không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Ông T đã được Tòa án triệu tập làm việc và tham gia hòa giải cũng như tham gia phiên tòa trong vụ án nhưng vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án cũng như không thể hiện ý muốn hòa giải đoàn tụ. Như vậy, có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa bà V, ông T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà V yêu cầu được ly hôn với ông T là có căn cứ chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Bà V và ông T có 03 con chung tên Phạm Thị Lan A, sinh ngày 30/6/2001; Phạm Hùng T1, sinh ngày 24/02/2007; Phạm Hồng P, sinh ngày 29/02/2016. Hiện cháu Lan A, Hùng T1 đã trên 18 tuổi không thuộc trường hợp phải cấp dưỡng nuôi con.Bà V không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Xét, yêu cầu của bà V yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục con chung Phạm Hồng P và không yêu cầu ông T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Việc giao con chung cho ai nuôi dưỡng cần phải xem xét về mọi mặt và quyền lợi của con chưa thành niên. Quá trình tố tụng tại Tòa án, ông T vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện ý chí mong muốn được nuôi con chung. Tại bản tự khai ngày 19/11/2025 cháu P thể hiện nguyện vọng “muốn ở cùng mẹ”. Do vậy, để ổn định cuộc sống của con chung cũng như xét điều kiện thực tế của bà V, cần giao con chung cháu P cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà V không yêu cầu giải quyết. Hội đồng xét xử không xét.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Bà V không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Tòa án nên chấp nhận.

Án phí sơ thẩm : Bà Lê Thị V phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và các Điều 227, 228, 238, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và đình năm 2014;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị V đối với bị đơn ông Phạm Văn T về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị V được ly hôn với ông Phạm Văn T (Giấy chứng nhận kết hôn số 28, quyển số 01/2001, tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện H, tỉnh Thái Bình ngày 09 tháng 6 năm 2001).

- Về nuôi con chung: Giao con chung tên Phạm Hồng P, sinh ngày 29/02/2016 cho bà Lê Thị V trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục. Ông T không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, bà Lê Thị V và ông Phạm Văn T có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con, không ai có quyền cản trở ông, bà thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí sơ thẩm: Bà Lê Thị V phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0032626 ngày 29 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự Thành phố H.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ