vanban.org

Bản án 162/2025/HS-PT — Hình sự

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/09/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Huỷ Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2025/HS-ST ngày 15 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

Chuyển trả hồ sơ vụ án hình sự cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk để tiến hành điều tra lại theo quy định của pháp luật. Bị cáo Phạm Thế U không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Huỷ Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2025/HS-ST ngày 15 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
  • Căn cứ chính? Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 360 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ PHÚC THẨM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 162/2025/HS-PT
Ngày: 23 - 9 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Tấn Long.

Các Thẩm phán: - ông Lê Văn Thường

- ông Đặng Kim Nhân

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Phương Mai - Thư ký Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Trần Viết Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2025, tại Điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng kết nối với điểm cầu thành phần tại Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 296/2025/TLPT-HS ngày 20 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo Phạm Thế U về tội “Trộm cắp tài sản”; do Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2025/HS-ST ngày 15 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk bị kháng cáo.

- Bị cáo có kháng cáo:

Phạm Thế U, sinh năm 1985, tại tỉnh Thừa Thiên Huế;

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: I ấp T, xã T, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã H, thành phố Hồ Chí Minh) ;nơi cư trú: C ấp T, xã T, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh (nay là ấp T, xã Đ, thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Thợ cây cảnh, tài xế; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; trình độ học vấn: 5/12; tôn giáo: Công giáo; con ông Phạm V (đã chết) và bà Trần Thị V1; vợ là Phạm Thị Hồng L; bị cáo có 05 người con, lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2024; tiền sự: không;

Tiền án: có 02 tiền án:

- Ngày 20/12/2017 bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 tháng tù, về tội Trộm cắp tài sản, tại Bản án số 200/2017/HSST; ngày 07/8/2019 chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xoá án tích.

- Ngày 19/4/2021 bị Tòa án nhân dân Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù, về tội Trộm cắp tài sản, tại Bản án số 49/2021/HSST; ngày 28/11/2023 chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích.

Nhân thân: ngày 12/11/2009 bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 18 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 33 tháng 12 ngày về tội Trộm cắp tài sản, tại bản án số 277/2009/HSST (đã xoá án tích).

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/6/2024 đến nay, có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo theo chỉ định: ông Nghiêm Thái B - Luật sư Văn phòng L1, Đoàn luật sư tỉnh Đ; địa chỉ: B H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là B H, phường B, tỉnh Đắk Lắk); có mặt.

* Bị hại: ông Trương Công Đ, nơi cư trú: Buôn A, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (nay là Buôn A, xã E, tỉnh Đắk Lắk); có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Phạm Thị Hồng L, sinh năm 1982 - Địa chỉ: C ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là C ấp T, xã Đ, Thành phố Hồ Chí Minh); có mặt.

- Ông Đặng Văn H, sinh năm 1987 - Địa chỉ: tổ dân phố A, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông (nay là phường B, tỉnh Lâm Đồng); vắng mặt.

- Bà Tôn Thanh Mỹ H1, sinh năm 1998 - Địa chỉ: B N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là B N, phường B, tỉnh Đắk Lắk); vắng mặt.

- Ông Triệu Trí M và bà Phạm Tú O - Địa chỉ: B P, Phường B, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là B P, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh); bà O có mặt.

- Anh Phan Trần Sỹ P - Địa chỉ: Thôn A, xã Y, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã H, tỉnh Đắk Lắk); vắng mặt.

- Anh Nguyễn Công M1 - Địa chỉ: A tổ A ấp T, xã T, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh M1 (nay là A tổ A, ấp T, xã Đ, Thành phố Hồ Chí Minh); vắng mặt.

* Người làm chứng:

- Anh Võ Tấn H2; địa chỉ: Tổ dân phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là phường T, tỉnh Đắk Lắk); vắng mặt.

- Anh Nguyễn Văn S; địa chỉ: Buôn Y, xã Đ, huyện L, tỉnh Đắk Lắk (nay là Buôn Y, xã Đ, tỉnh Đắk Lắk); vắng mặt.

- Ông Nguyễn Đức H3; địa chỉ: A G, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là A G, phường B, tỉnh Đắk Lắk); vắng mặt.

- Ông Trần Việt H4; địa chỉ: thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng (nay là thôn H, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng).

- Ông Bùi Quang H5; địa chỉ: thôn B, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (nay là thôn B, xã H, tỉnh Lâm Đồng); vắng mặt.

- Bà Trần Thị S1; địa chỉ: C Quốc lộ B, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (nay là 312 Quốc lộ B, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng); vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1] Theo Bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 14/01/2024 Phạm Thế U đến cửa hàng xe máy "Lộc Phát moto" của chị Tôn Thanh Mỹ H1 tại B N, thành phố B mua 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamha Exciter 155, biển số 47L1-344.40 với giá 34.500.000 đồng. Ngày 03/4/2024 U điều khiển xe mô tô trên, gắn biển số giả 63B2-945.87 thuê phòng tại nhà nghỉ "” tại số B T, phường T, thành phố B. Sáng ngày 04/4/2024 U trả phòng và điều khiển xe mô tô di chuyển trên các tuyến đường của thành phố B theo dõi người dân rút tiền từ ngân hàng ra lợi dụng sơ hở để trộm cắp tài sản. Khoảng 08 giờ ngày 04/4/2024 ông Trương Công Đ điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Peugeot màu trắng, biển số 47A- 494.63 đến Ngân hàng Thương mại cổ phần N - Chi nhánh Đ1, rút số tiền 650.000.000 đồng về trả tiền thu mua nông sản cho người dân. Khoảng 10 giờ cùng ngày, ông Đ lấy ra số tiền 20.000.000 đồng bỏ vào túi quần, còn lại 630.000.000 đồng ông Đ để ở ghế phụ của xe ô tô rồi đi đến nhiều địa điểm tại thành phố B để mua hàng. Sau khi quan sát phát hiện thấy ông Đ đi từ trong Ngân hàng ra thì U điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Exciter biển số 63B2-945.87 bám theo xe ô tô của ông Đ tìm cơ hội trộm cắp tài sản.

Đến khoảng 12 giờ 25 phút cùng ngày, ông Đ đi đến tiệm cắt tóc “Gia Huy” tại số A L, phường T, thành phố B và đậu xe phía đối diện để vào tiệm cắt tóc. Quan sát thấy ông Đ đi vào tiệm cắt tóc, U đi đến vị trí đỗ xe ô tô, dùng tẩu sạc nhãn hiệu “Stinger” có thiết kế mũi đột và lưỡi dao đập bể kính sau bên phụ của xe ô tô lôi hàng hóa bên trong xe bỏ xuống đường lục tìm thấy túi đựng số tiền 630.000.000 đồng. U lấy số tiền trên rồi điều khiển xe mô tô di chuyển qua nhiều tuyến đường, thay đổi trang phục, phương tiện di chuyển nhằm mục đích tránh sự phát hiện của cơ quan công an. Khi đi đến ngã ba Hòa Bình, thành phố B, U thuê anh Võ Tấn H2 dùng xe tải chở xe mô tô và U đi về thị trần L, huyện L, tỉnh Đắk Lắk với giá 1.000.000 đồng. Khi tới huyện L, U tiếp tục điều khiển xe mô tô đi đến khu vực đèo Đ đi vào rẫy của anh Nguyễn Văn S, U bỏ lại xe mô tô, khẩu trang và một số đồ vật khác rồi ra Quốc lộ B đi nhờ xe anh Phan Trần Sỹ P sang tỉnh Lâm Đồng. Khi đi đến huyện L, tỉnh Lâm Đồng, U xuống xe và trả tiền công cho anh P số tiền 1.000.000 đồng và cho anh P một chiếc đồng hồ nhãn hiệu Fossil. Sau đó U đón xe taxi đi đến shop quần áo “Sương” tại số C Quốc lộ B, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng mua quần áo, mũ, dép, ba lô với tổng số tiền 1.490.000 đồng, rồi U di chuyển lên thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Vào trưa ngày 04/4/2024 U liên hệ với vợ là Phạm Thị Hồng L, nói Lụa liên hệ và thuê anh Nguyễn Công M1 là người chạy xe dịch vụ lên thành phố Đ và đón U tại khu vực Quảng trường. Sau khi đón được U, cả hai đi nhậu rồi đến nghỉ tại khách sạn A1 tại phường I, thành phố Đ. Sáng ngày 05/4/2024 M1 chở U về Thành phố Hồ Chí Minh. Khi về đến nơi U cho M1 số tiền là 10.000.000 đồng để trả nợ. Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 04/4/2024, ông Đ ra xe ô tô thì phát hiện kính xe ô tô phía sau bên phải bị đập bể, hàng hóa để trong xe bị lôi ra ngoài, kiểm tra bên trong xe thì phát hiện bị mất số tiền 630.000.000 đồng nên đã trình báo sự việc cho Công an.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường nơi xảy ra là khu vực lề đường trước trụ điện 105B đường L, phường T, thành phố B. Hiện trường phát hiện dấu vết, phương tiện gây án tại cột mốc Km60 Quốc lộ B xã Đ, huyện L 01 khẩu trang vải; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 47000300; 01 khóa xe điện tử màu đen; 01 bản sao căn cước công dân mang tên Lê Văn Q; 01 đèn pin; 02 ốp cao su bọc tay lái màu đen; 01 nắp chai nhựa màu trắng; 01 vỏ chai nhựa; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh đen, số khung RLCUG1210MY024912, số máy G3D4E031462 (không biển số).

* Kết quả giám định, định giá tài sản:

- Tại Kết luận giám định số 776/KL-KTHS ngày 04/5/2024 của Phân Viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận: Trên chiếc khẩu trang mẫu cần giám định có ADN của một người nam giới đủ điều kiện để truy nguyên đối tượng, lưu hồ sơ ADN tại Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng. Trên các mẫu giám định còn lại có ADN người, do chất lượng dấu vết kém nên ADN phân tích được không đủ điều kiện để truy nguyên đối tượng.

- Tại Kết luận giám định số 1061/KL-KTHS ngày 22/5/2024 của Phân Viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận: ADN trên khẩu trang được lưu theo hồ sơ kết luận giám định số 776/KL-KTHS ngày 04/5/2024 của Phân viện KHHS tại thành phố Đà Nẵng là của Phạm Thế U.

- Tại Kết luận giám định số 3513/KL-KTHS ngày 30/5/2024 của Phân Viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Trên sạc ô tô bên ngoài bọc nhựa màu đen, in chữ “Stinger” gửi giám định là loại tẩu sạc có chức năng phá kính nên có thể làm bể, vỡ kính của phía sau hông xe ô tô nhãn hiệu Peugeot 3008, năm sản xuất 2023.

- Tại Kết luận giám định số 3299/KL-KTHS ngày 31/5/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

+ Không phát hiện thấy dấu vết cho thấy các tập tin hình ảnh (video) trong mẫu cần giám định (ký hiệu từ A1 đến A4) và mẫu so sánh ký hiệu từ M4 đến M28 là bị cắt ghép, chỉnh sửa về nội dung.

+ Hình ảnh xe mô tô của đối tượng trong nội dung tập tin Video cần giám định ký hiệu A1, A2 (camera an ninh thu được tại hiện trường) so với hình ảnh so sánh ký hiệu M4, M5 (xe mô tô nhãn hiệu Exciter màu xanh thu được tại khu vực đèo Đ, huyện L, tỉnh Đắk Lắk) là đồng dạng với nhau.

+ Hình ảnh khẩu trang vải caro của đối tượng trong nội dung tập tin video cần giám định ký hiệu A1, A2 (camera an ninh thu được tại hiện trường) so với hình ảnh ký hiệu M6 (khẩu trang vải caro thu được tại khu vực đèo Đ) là đồng dạng với nhau.

+ Hình ảnh mũ bảo hiểm màu đỏ của đối tượng trong nội dung tập tin video cần giám định ký hiệu A1, A2 so với hình ảnh mũ bảo hiểm màu đỏ so sánh ký hiệu M7 do anh Nguyễn Đức H3 giao nộp là đồng dạng với nhau.

+ Hình ảnh ba lô màu đen của đối tượng trong nội dung tập tin video cần giám định ký hiệu A1, A2 so với hình ảnh so sánh ba lô của đối tượng mang vào shop “Sương” xuất hiện trong nội dung video ký hiệu A3, A4 là đồng dạng với nhau.

+ Hình ảnh người đàn ông xuất hiện trong tập tin video cần giám định ký hiệu A1, A2, A3, A4 so sánh với hình ảnh của Phạm Thế U, sinh năm 1985, nơi cư trú: C ấp T, xã T, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh ký hiệu từ M8 đến M28 là của một người.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 106/KL-HĐĐGTS ngày 16/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự thành phố B, kết luận: 01 tấm kính phía sau bên phải của xe ô tô nhãn hiệu Peugeot biển số 47A-494.63 loại xe ô tô con, số loại 3008 MJFP6Z đã qua sử dụng, tài sản bị hủy hoại hư hỏng toàn bộ và không có khả năng khôi phục lại tình trạng của tài sản, trước khi bị hủy hoại, hư hỏng tại thời điểm trước khi bị thiệt hại ngày 04/4/2024 có giá 1.080.000 đồng.

[2] Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2025/HS-ST ngày 15 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thế U phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 173; khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Thế U 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/6/2024.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí và công bố quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[3] Kháng cáo:

Ngày 17-5-2025 bị cáo Phạm Thế U kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, trình bày kháng cáo kêu oan. Nêu lý do kháng cáo là bị cáo không phải là người thực hiện hành vi trộm cắp trong vụ án này. Bản án sơ thẩm kết tội bị cáo nhưng chứng cứ chỉ dựa vào lời khai người làm chứng, họ chỉ khai là gặp người giống bị cáo, nhưng những người làm chứng này không xác định được ai là người trộm cắp. Bằng chứng buộc tội bị cáo chỉ có chiếc khẩu trang, cách thành phố B 80 km. Ngày phát hiện ra xe máy cách ngày xảy ra vụ án đến 06 ngày, cũng không có cơ sở xác định được xe này có phải xe gây án không.

[4] Tại phiên toà phúc thẩm:

Bị cáo Phạm Thế U giữ nguyên kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Bị cáo trình bày ý kiến là những người làm chứng không xác định được bị cáo là người có hành vi trộm cắp tài sản, nên không có chứng cứ để xác định bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

Người bào chữa của bị cáo có ý kiến: tại phiên toà phúc thẩm không triệu tập người liên quan đến việc giám định để làm rõ việc giao và nhận mẫu vật giám định là chưa thể làm sáng tỏ vụ án. Bị cáo không thừa nhận có hành vi phạm tội từ đầu đến cuối. Chứng cứ buộc tội bị cáo là chiếc xe máy và khẩu trang thì chỉ xác định là “đồng dạng”, chưa thể xác định đồng nhất là một; khẩu trang thu giữ và giám định là “xanh, xám, trắng”, nhưng khi kết luận giám định là “xanh, xám, trắng, đỏ quai trắng”. Không chứng minh rõ được sự di chuyển dọc đường của bị cáo từ Buôn Ma T1 đi Đ, hay đi từ thành phố Hồ Chí Minh đi Đ vào ngày 04-4-2024.

Người bào chữa cung cấp chứng cứ mới là Đơn cam kết lời khai của ông Nguyễn Tri T2, Nguyễn hành T3, Nguyễn Anh T4 cùng có nội dung vào khoảng 06 giờ đến 08 giờ ngày 04-4-2024 có gặp Phạm Thế U tại thành phố Hồ Chí Minh.

Bà Phạm Tú O trình bày ý kiến là bà không chứng kiến sự việc, là người liên quan nên được tham gia phiên toà sơ thẩm, nhưng thấy tại phiên toà sơ thẩm vắng những người làm chứng để buộc tội bị cáo U, thấy không thuyết phục nên đã làm “Đơn cầu cứu khẩn cấp” vào ngày 28-5-2025. Sau khi thấy bản án sơ thẩm tuyên bị cáo phải nộp tiền thì bà là chị của bị cáo U nên đã tự nguyện nộp số tiền 621.080.000 đồng (phiếu thu 0001479) và số tiền án phí 29.043.200 đồng (phiếu thu 0001478) cùng ngày 12-6-2025; khi bà nộp không hỏi ý kiến bị cáo, chỉ với mong muốn giúp bị cáo được tốt nhất có thể. Nếu bị cáo phạm tội thì số tiền trên dùng để thi hành án nhằm giảm nhẹ cho bị cáo, còn không phạm tội thì bà xin được nhận lại.

Kiểm sát viên đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Hội đồng xét xử, những người tiến hành và tham gia tố tụng khác đã thực hiện và tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; đây là phiên toà phúc thẩm được mở lần thứ 4, nhưng vẫn vắng mặt người liên quan, người làm chứng quan trọng trong vụ án.

- Về nội dung kháng cáo: sau khi phân tích nội dung vụ án, Kiểm sát viên thấy rằng lời khai của bị cáo và người làm chứng hoàn toàn khác nhau, nhưng quá trình điều tra chưa thực hiện Đối chất, tại phiên toà sơ thẩm và phiên toà phúc thẩm đều vắng mặt người liên quan, người làm chứng nên không thể thực hiện đối chất được. Cần điều tra xác định rõ việc di chuyển của bị cáo, Tại phiên toà phúc thẩm người bào chữa cung cấp một số lời khai cho rằng vào sáng ngày 04-4-2024 bị cáo ở thành phố Hồ Chí Minh, nên cần điều tra làm rõ. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm huỷ Bản án sơ thẩm, chuyển trả hồ sơ để tiến hành điều tra lại theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh luận tại phiên toà; Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Cơ quan điều tra đã tiến hành thu thập các chứng cứ, lấy lời khai người làm chứng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, tiến hành nhận dạng để xác định bị cáo Phạm Thế Y1 ngày 04-4-2024 có mặt tại thành phố B và quá trình bị cáo từ thành phố B đi về hành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Tuy nhiên, các lời khai người làm chứng và bị cáo có nội dung khác nhau, có mâu thuẫn, nhưng chưa có tiến hành Đối chất theo quy định tại Điều 189 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên toà sơ thẩm, người làm chứng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt; tại phiên toà phúc thẩm những người này cũng đều vắng mặt, nên không thể tiến hành đối chất.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà sơ thẩm, phiên toà phúc thẩm bị cáo Phạm Thế U không thừa nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 04-4-2024. Bị cáo cho rằng trong ngày 04/4/2024 bị cáo đưa con đi học, sau đó bị cáo đón xe G, xe khách di chuyển từ thành phố Hồ Chí Minh lên thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng nên trong thời gian đó bị cáo không có mặt ở thành phố B để thực hiện hành vi phạm tội.

. Bản án sơ thẩm nhận định: “Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đều xác nhận đã tiếp xúc với bị cáo Phạm Thế U trong khoảng thời gian ngày 14/01/2024 và từ ngày 03/4/2024 đến ngày 04/4/2024. Theo các vật chứng do bị cáo để lại hiện trường khẩu trang vải, mũ bảo hiểm, xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, hình ảnh video từ camera an ninh và camera của các hộ dân, cửa hàng kinh doanh đã bán hàng cho bị cáo U. Tại các kết luận giám định thể hiện mẫu ADN trên khẩu trang là của Phạm Thế U; các hình ảnh xe mô tô hiệu Yamaha Exciter tại hiện trường vụ án với hình ảnh xe mô tô Yamaha Exciter thu tại Đèo Đ, hình ảnh mũ bảo hiểm màu đỏ, khẩu trang vải caro, ba lô màu đen, người đàn ông xuất hiện tại hiện trường vụ án là đồng dạng với nhau và của cùng một người. Như vậy, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ căn cứ pháp lý kết luận: Khoảng 12 giờ 25 phút ngày 04/4/2024 tại 116 đường L, thành phố B, đối diện Tiệm cắt tóc Gia H6, bị cáo Phạm Thế U đã dùng tẩu sạc có thiết kế mũi nhọn đập bể kính ghế phụ phía sau xe ô tô hiệu Peugeot 3008 biển số 47A-494.63 trộm cắp số tiền 630.000.000 đồng của ông Trương Công Đ.”.

Hồ sơ vụ án thể hiện có lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và đều khai rằng khi tiếp xúc thì bị cáo mang khẩu trang. Việc xác định bị cáo thuê phòng tại nhà nghỉ "” tại số B T, phường T, thành phố B vào ngày 03/4/2024 đến sáng ngày 04/4/2024 chưa thu thập được các dữ liệu, thông tin để xác định rõ. Bị cáo U không thừa nhận lời khai cho rằng bị cáo là người đã tiếp xúc với những người làm chứng, người có liên quan tại khu vực thành phố B và tỉnh Đăk Lăk, như vậy là có mâu thuẫn, khác nhau trong nội dung lời khai nhưng không có tiến hành đối chất. Tại phiên toà sơ thẩm và phiên toà phúc thẩm những người làm chứng, người có liên quan đều vắng mặt nên việc kiểm tra, đối chất không thực hiện được.

Tại phiên toà phúc thẩm, Luật sư bào chữa cho bị cáo cung cấp bổ sung lời khai của ông Nguyễn Trí T5, Nguyễn Thành T6, Nguyễn Anh T4 cho rằng có gặp Phạm Thế U tại thành phố Hồ Chí Minh vào sáng ngày 04-4-2024. Đây là các tình tiết mới cần được tiến hành xem xét, điều tra làm rõ.

Như vậy, trên cơ sở các chứng cứ buộc tội và chứng cứ ngoại phạm đều cần được xem xét đầy đủ theo các thủ tục tố tụng. Hội đồng xét xử phúc thẩm huỷ bản án hình sự sơ thẩm để điều tra lại theo quy định pháp luật.

Do huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm để điều tra lại, nên không xem xét các nội dung khác trong vụ án; các nội dung này sẽ được xem xét, giải quyết tại giai đoạn tố tụng của cấp sơ thẩm theo thủ tục chung.

Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 355, điểm b khoản 1, khoản 3 Điều 358, khoản 1 Điều 360 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Huỷ Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2025/HS-ST ngày 15 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

Chuyển trả hồ sơ vụ án hình sự cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk để tiến hành điều tra lại theo quy định của pháp luật.

2. Bị cáo Phạm Thế U không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các nội dung khác trong vụ án sẽ được xem xét tại giai đoạn sơ thẩm lại.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ