- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa Cao Thị N - Bùi Văn T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Cao Thị N ly hôn với anh Bùi Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 162/2023/HNGĐ-ST Ngày: 21-9-2023 V/v: Ly hôn giữa chị N và anh T |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Quyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Giang Thành.
2. Bà Đinh Thị Phương Lan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quốc Tững - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên toà: Không tham gia
Ngày 21 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 414/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2023 về tranh chấp ly hôn, giải quyết việc nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 167/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 87/2023/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Cao Thị N, sinh năm 1988; địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang. (vắng mặt)
2. Bị đơn: Anh Bùi Văn T, sinh năm 1982; địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn đề ngày 05/6/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Cao Thị N trình bày: Vào năm 2005, chị N và anh Bùi Văn T quen biết nhau thương yêu nhau và được sự đồng ý của cha mẹ hai bên nên chị và anh T tiến hành tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn với nhau tại UBND xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang vào ngày 21/4/2009. Trong quá trình chung sống chị và anh T có 03 người con chung tên Bùi Quang S, sinh ngày 15/5/2005; Bùi Triệu V, sinh ngày 17/11/2007 và Bùi Tuấn K, sinh ngày 23/8/2013, hiện các con đang sống cùng chị N. Về tài sản chung, nợ chung thì không có.
Chị N xác nhận thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc nhưng đến năm 2021 thì chị N bị tai nạn giao thông không lao động được nên anh T đã bỏ chị đi với người phụ nữ khác từ đó đến nay không có trách nhiệm gì với gia đình, hơn nữa trong cuộc sống hàng ngày vợ chồng cũng thường xuyên mâu thuẫn với nhau, lý do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày, không hợp nhau, vợ chồng thường hay cãi vã nhau, tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt, chị và anh T đã ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Nay chị nhận thấy tỉnh cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Toà án giải quyết.
Về hôn nhân: Chị N xin được ly hôn cùng anh Bùi Văn T
Về việc nuôi con chung: Hiện cháu Quang S đã trưởng thành nên chị không yêu cầu Toà án giải quyết, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu K và cháu V cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Bùi Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến trình bày tại Tòa.
Tại phiên tòa chị N, anh T vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Cao Thị N có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang giải quyết việc hôn nhân của anh chị. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm 4 khoản 1 Điều 40 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất. Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho chị N và anh T nhưng anh, chị vắng mặt tại phiên tòa, riêng chị N có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh T chung sống với nhau vào năm 2005 trên cơ sở hôn nhân hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang vào ngày 21/4/2009, do đó hôn nhân giữa anh chị là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Xét yêu cầu ly hôn của chị N, Hội đồng xét xử xét thấy: Thời gian đầu, chị và anh T chung sống hạnh phúc trên cơ sở hôn nhân tự nguyện và có với nhau 03 người con chung tên Bùi Quang S, sinh ngày 15/5/2005; Bùi Triệu V, sinh ngày 17/11/2007 và Bùi Tuấn K, sinh ngày 23/8/2013. Tuy nhiên, kể từ đầu năm 2021, giữa chị và anh T phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng chung sống không còn thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, khiến cho cuộc sống hôn nhân rạn nứt, hiện tại chị và anh T sống ly thân, cuộc sống của ai người đó tự lo. Xét thấy cuộc sống hôn nhân của anh chị không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào quy định tại khoản 1, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N.
Về việc nuôi con chung: Chị N và anh T có 03 con chung tên Bùi Quang S, sinh ngày 15/5/2005; Bùi Triệu V, sinh ngày 17/11/2007 và Bùi Tuấn K, sinh ngày 23/8/2013, chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu V và cháu K đến khi trưởng thành, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con vì chị có thu nhập ổn định, đủ điều kiện kinh tế nuôi con được; còn cháu S đã trưởng thành nên chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Xét thấy, từ khi anh chị sống ly thân, cháu V và cháu K sống với chị N, chị N vẫn đảm bảo cuộc sống về vật chất và tinh thần cho các con, mặt khác theo biên bản lấy lời khai ngày 27/7/2023 thì cháu V và cháu K có nguyện vọng sống cùng chị N, do đó Hội đồng xét xử xét nên giao cháu V và cháu K cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi là phù hợp với quy định tại khoản 1 và khoản 2, Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Anh T1 được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Chị N cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh T1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con. Đối với cháu S đã trưởng thành và chị N không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N có ý kiến không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con, anh T1 không có ý kiến trình bày tại Tòa và không có yêu cầu phản tố, do đó Hội đồng xét xử không xem xét về vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập anh T1 đúng theo quy định pháp luật nhưng anh T1 vẫn vắng mặt không lý do. Vì vậy, Toà án không tiến hành hoà giải, đối chất về tài sản chung và nợ chung giữa chị N và anh T1 được. Mặt khác, tại Toà án chị N xác nhận trong thời gian chung sống cùng anh T1, anh chị không có tài sản gì và cũng không có nợ ai. Cho nên về phần tài sản chung và nợ chung Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này các đương sự có yêu cầu thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.
Về án phí: Nguyên đơn chị N yêu cầu ly hôn nên căn cứ theo quy định tại khoản 4, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị N phải có nghĩa vụ nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1, Điều 51, khoản 1, Điều 56, các Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 35, 39 và Điều 40; khoản 4 Điều 147; Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho chị Cao Thị N ly hôn với anh Bùi Văn T.
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Bùi Triệu V, sinh ngày 17/11/2007 và cháu Bùi Tuấn K, sinh ngày 23/8/2013 cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Anh T1 được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Chị N cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh T1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con.
Đối với cháu Bùi Quang S, sinh ngày 15/5/2005 đã trưởng thành, chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Cao Thị N không yêu cầu anh Bùi Văn T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Cao Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Cao Thị N phải nộp 300.000 đồng nhưng chị N được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0000068 ngày 06-7-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang, chị N không phải nộp thêm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014”.
6. Quyền kháng cáo: Chị Cao Thị N và anh Bùi Văn T vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. ơNơi nhận:
| - Đương sự; - VKSND huyện Hòn Đất; - CCTHADS huyện Hòn Đất; - Phòng KTNV và Thi hành án TA tỉnh; - Sở Tư pháp tỉnh; - UBND xã Mỹ Lâm; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Phan Thị Quyên |