vanban.org

Bản án 162/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Huế, TP. Huế Tuyên án 08/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đăng K - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HUẾ
THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 162/2022/HSST
Ngày: 08 - 7 - 2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Dung. Các

Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Vỵ.

2. Bà Trần Thị Thanh Xuân.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Thúy, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Huế. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trọng Thọ – Kiểm sát viên.

Trong ngày 08 tháng 7 năm 2022 , tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 107/2022/HSST ngày 06 tháng 5 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 136/2022/QĐXXSTHS ngày 02 tháng 6 năm 2022, Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 110/TB-TA ngày 14 tháng 6 năm 2022, đối với bị cáo:

Nguyễn Đăng K (tên gọi khác: Ben), sinh ngày 21 tháng 9 năm 1988, tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Nơi đăng ký HKTT: 39 H, phường A, thành phố H, tỉnh T; Tạm trú tại: Phòng 613, khu C3, chung cư V, phường X, thành phố H, tỉnh T, nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đăng Y và con bà Bùi Thị Kim D; vợ: Sống chung như vợ chồng với chị Nguyễn Khánh H, sinh năm 1992; con: Có 02 con (con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh ngày 13/6/2022); anh em ruột: Có 02 người, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Lúc nhỏ ở với gia đình và học văn hoá đến lớp 12/12. Ngày 25/11/2008, bị Công an thành phố Huế xử phạt hành chính 300.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý (quyết định số: 19955). Ngày 16/9/2009, bị Công an thành phố Huế xử phạt hành chính 500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý (quyết định số: 18526). Ngày 17/4/2012, bị Toà án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 01 năm 03 tháng tù, về tội: “Tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma tuý” (Bản án số: 70/2012/HSPT); bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/11/2012. Ngày 15/6/2017, bị Công an thành phố Huế xử phạt hành chính 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý (quyết định số: 26984).

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 25/01/2022 cho đến nay - có mặt.

Bị hại: Anh Phạm Ngọc A, sinh năm 1997. Địa chỉ: Số 16/4 T, phường X, thành phố H, tỉnh T - có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Bùi Thị Kim D, sinh năm 1961. Địa chỉ: 39 H, phường A, thành phố H, tỉnh T - có mặt Người làm chứng:

-

Chị Ngô T hị L, sinh năm 1998. Địa chỉ: Số 16/4 T, phường X, thành phố H, tỉnh T - vắng mặt.

-

Chị Nguyễn Khánh H, sinh năm 1992. Địa chỉ: Phòng 613, khu C3, chung cư V, phường X, thành phố H, tỉnh T - có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Đăng K sống chung như vợ chồng với chị Nguyễn Khánh H, trong quá trình sinh hoạt, chị H vay mượn tiền của anh Phạm Ngọc A và chị Ngô Thị L, việc vay mượn tiền không có hợp đồng hay giấy tờ thoả thuận nên dẫn đến mâu thuẫn nhau.

Vào khoảng 18 giờ ngày 06/12/2021, anh A và chị L đến căn hộ số 613, khu C3, chung cư Vicoland, phường Xuân Phú, thành phố Huế của chị Hà và K để giải quyết việc nợ nần. Tại đây, giữa hai bên tiếp tục phát sinh mâu thuẫn và cãi vả nhau. Lúc này, K đi đến ghế sô pha để ở giữa nhà, dùng tay lật tấm nệm lên và lấy ra 01 con dao (có đặc điểm: loại dao bản, kích thước dài 33cm, phần cán bằng nhựa dài 13 cm, lưỡi bằng sắt dài 20cm, bảng rộng 09cm, sắc một bề, mũi dao ngang) chỉ về phía anh A để đe doạ. Thấy vậy, anh A đi đến khu vực nhà bếp để tìm hung khí chống trả lại K, thì K chạy theo đến đứng đối diện với anh A (cách khoảng 01 mét) và dùng tay phải cầm dao chém 01 nhát theo hướng từ trên xuống, hơi chếch ngang, từ phải sang trái vào người nên anh A đưa tay trái lên để đỡ thì lưỡi dao trúng vào khuỷu tay trái, gây thương tích. Sau khi bị chém, anh A và chị L bỏ chạy ra ngoài, K không truy đuổi theo. Sau đó, chị L đưa anh A đi cấp cứu tại Bệnh viện Quân Y 268 rồi chuyển điều trị tại Bệnh viện Trung ương Huế. * Vật chứng thu giữ:

- 01 con dao, loại dao bản, kích thước dài 33cm, phần cán bằng nhựa dài 13 cm, lưỡi bằng sắt dài 20cm, bảng rộng 09cm, sắc một bề, mũi dao ngang, tiếp tục tạm giữ để phục vụ công tác truy tố và xét xử;

- 01 cái áo khoác màu xám đen, phần cánh tay bên trái có vết rách dài 04cm; 01 cánh tay áo bằng vải, màu trắng, dài 40cm, dính chất màu nâu đỏ. Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Phạm Ngọc A.

*Tại Bản kết luận giám định pháp y về tổn thương cơ thể số: 314-22 ngày 13/01/2022 của Trung tâm Giám định Y K- Pháp y Sở Y tế tỉnh Thừa Thiên Huế kết luận về thương tích của anh Phạm Ngọc A như sau:

1.

Dấu hiệu chính qua giám định:

Chấn thương vỡ lồi cầu trong xương cánh tay trái: 21%; Chấn

thương đứt nhánh thần kinh trụ tay trái: 11%

2.

Tỷ lệ tổn thương cơ thể hiện tại là: 30% (ba mươi phần trăm).

3.

Vật gây: Vật sắc cạnh. Vết thương hình thành trên 04 tuần.

Hướng tác động: Trước sau, trên xuống.

*Về trách nhiệm dân sự: Anh Phạm Ngọc A yêu cầu bị cáo Nguyễn Đăng K bồi thường về dân sự với tổng số tiền là 45.000.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng). Hiện K đã tác động gia đình bồi thường đầy đủ số tiền trên và anh A có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho K.

Tại Cơ quan điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 124/CT-VKS-HS ngày 06/5/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế đã truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích”;

- Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, 54 Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo: Nguyễn Đăng K từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Gia đình của bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho bị hại, bị hại đã nhận đủ tiền không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Tại phiên tòa không có yêu cầu gì thêm nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

- Về xử lý vật chứng:

+ Đối với 01 cái áo khoác màu xám đen, phần cánh tay bên trái có vết rách dài 04cm; 01 cánh tay áo bằng vải, màu trắng, dài 40cm, dính chất màu nâu đỏ. Cơ quan CSĐT đã trả lại cho chủ sở hữu anh Phạm Ngọc A.

+ Đối với 01 con dao, loại dao bản, kích thước dài 33cm, phần cán bằng nhựa dài 13 cm, lưỡi bằng sắt dài 20cm, bảng rộng 09cm, sắc một bề, mũi dao ngang, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu và tiêu hủy.

- Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến về quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Huế. Lời sau cùng của bị cáo là đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Huế, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành Tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2]. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xét lời khai của bị cáo phù với lời khai của bị hại tại cơ quan điều tra và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở để khẳng định: Vào khoảng 18 giờ ngày 06/12/2021, tại căn hộ số 613, khu C3, chung cư Vicoland, phường Xuân Phú, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, do có mâu thuẫn trong việc vay mượn tiền nên Nguyễn Đăng K đã có hành vi dùng dao bằng sắt (là hung khí nguy hiểm) chém 01 nhát vào tay trái của anh Phạm Ngọc A gây thương tích, với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 30% (ba mươi phần trăm). Tại bảo cáo trạng số 124/CT-VKS-HS ngày 06/5/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế đã truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe tính mạng của người khác, gây mất trật tự trị an trong khu vực dân cư. Hành vi của bị cáo thể hiện tính xem thường tính mạng sức khoẻ của người khác, bất chấp pháp luật. Do đó cần đưa ra mức án tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

[4].Khi quyết định mức hình phạt cần xem xét: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại toàn bộ chi phí điều trị, bồi thường thỏa đáng cho bị hại. Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, cần xem xét bị cáo có ông nội là ông Nguyễn Đăng P, bà nội là bà Nguyễn Thị C, ông ngoại là ông Bùi Duy P, bà ngoại là bà Nguyễn Thị H được Nhà nước tặng thưởng 04 “Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước”, hoàn cảnh hiện tại bị cáo có hai con nhỏ, là lao động chính trong gia đình. Từ những tình tiết trên cần xem xét áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xử dưới khung hình phạt cho bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Giữa bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bị cáo bồi thường cho bị hại là 45.000.000 đồng (bốn mươi lăm triệu đồng). Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường đầy đủ 45.000.000 đồng (bốn mươi lăm triệu đồng). Không ai yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét. [6]. Về xử lý vật chứng:

+ Đối với 01 cái áo khoác màu xám đen, phần cánh tay bên trái có vết rách dài 04cm; 01 cánh tay áo bằng vải, màu trắng, dài 40cm, dính chất màu nâu đỏ. Cơ quan CSĐT đã trả lại cho chủ sở hữu anh Phạm Ngọc A là phù hợp với quy định của pháp luật.

+ Đối với vật chứng là 01 con dao, loại dao bản, kích thước dài 33cm, phần cán bằng nhựa dài 13 cm, lưỡi bằng sắt dài 20cm, bảng rộng 09cm, sắc một bề, mũi dao ngang là phương tiện dùng vào việc phạm tội của vụ án và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[7]. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đăng K phạm tội "Cố ý gây thương tích".

- Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Nguyễn Đăng K 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 25/01/2022.

2.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng; Tịch thu tiêu hủy 01 con dao, loại dao bản, kích thước dài 33cm, phần cán bằng nhựa dài 13 cm, lưỡi bằng sắt dài 20cm, bảng rộng 09cm, sắc một bề, mũi dao ngang (Vật chứng có đặt điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế và Chi cục Thi hành án thành phố Huế ngày 09/5/2022).

3.

Về án phí: Áp dụng Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo Nguyễn Đăng K phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ