- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Thị Thanh T ly hôn Hồ Văn N"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Thanh T đối với ông Hồ Văn N về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ___________ Bản án số:162/2022/HNGĐ-ST Ny:01-9-2022 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tân
- Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Đinh Quang Vĩnh;
2/ Ông Bùi Quang Trường.
- Thư ký phiên tòa Bà Nguyễn Thị Ngọc Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên toà: Ông Trương Vui, Chức vụ Kiểm sát viên.
Ny 01 tháng 9 năm 2022, tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 90/2022/TLST-HNGĐ Ny 13 tháng 5 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2022/QĐXXST-HNGĐ Ny 13 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Thanh T, sinh năm: 1988; Địa chỉ: Khối 3, phường V, thị xã Đ, tỉnh Q (có mặt).
- Bị đơn: Ông Hồ Văn N, sinh năm: 1988; Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Q (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đề Ny 05 tháng 5 năm 2022 và trong quá trình giải quyết, xét xử, nguyên đơn bà Võ Thị Thành T trình bày: Bà Võ Thị Thanh T và ông Hồ Văn N kết hôn với nhau vào năm 2013 có đăng ký tại UBND phường V, thị xã Đ, kết hôn tự nguyện được sự đồng ý 2 bên gia đình. Sau khi kết hôn bà T và ông N về chung sống tại thôn H, xã Đ, thị xã Đ. Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn bất đồng quan điểm, nguyên nhân do ông N tự gây nợ nên nhiều người đến nhà đòi nợ,
1 từ đó vợ chồng mâu thuẫn, ông N thường kiếm chuyện đánh đập bà T, ông N nhiều lần đến cơ quan bà T quậy phá, làm ảnh hưởng đến công việc. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 3/2022 đến nay, nay tình cảm vợ chồng không còn nên bà T yêu cầu ly hôn ông Hồ Văn N.Vợ chồng có 01 con chung tên là Hồ Thị Thanh T, sinh ngày 08/9/2014, hiện nay con đang sống với bà T, nay ly hôn bà T có nguyện vọng nuôi con và yêu cầu ông N cấp dưỡng 2.000.000đ/1 tháng. Tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai của đương sự Ny 02 tháng 6 năm2022 và trong quá trình giải quyết, xét xử bị đơn ông Hồ Văn N trình bày: Về thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn và con chung, ông N hoàn toàn thống nhất với lời trình bày của bà T và không bổ sung gì thêm. Trong thời gian chung sống, vợ chồng chung sống với nhau tại thôn H, xã Đ, vợ chồng không có phát sinh mâu thuẫn. Đến khoảng năm 2020 do dịch bệnh ảnh hưởng đến kinh tế gia đình nên vợ chồng mâu thuẫn nhưng nay dịch bệnh hết ông N lo làm ăn, lo kinh tế gia đình nhưng bà T lại không thông cảm, từ đó vợ chồng mâu thuẫn. Đầu tháng 5/2022, bà T viết đơn yêu cầu ly hôn và tự ý bỏ về nhà cha mẹ sống tại phường Vĩnh Điện, bản thân ông N nhiều lần khuyên bà T về chung sống nhưng bà T không đồng ý. Bản thân bà T coi trọng đồng tiền, không coi trọng tình nghĩa vợ chồng nên ông N mong Tòa án xem xét. Bà T yêu cầu ly hôn nhưng tình cảm vợ chồng vẫn còn nên ông N không đồng ý; trường hợp bà T kiên quyết yêu cầu ly hôn thì ông N yêu cầu được nuôi con là Hồ Thị Thanh T và không yêu cầu cấp dưỡng. Tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, bà T và ông N không có ý kiến gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Quá trình Toà án cấp sơ thẩm đã thụ lý, giải quyết, xét xử vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự chấp hành tốt quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: Bà T và ông N đã mâu thuẫn trầm trọng nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T, cho bà T được ly hôn ông N, về con chung giao con Hồ Thị Thanh Trúc cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng và không yêu cầu cấp dưỡng; về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án hôn nhân gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa nguyên đơn bà Võ Thị Thanh T và bị đơn Hồ Văn N; bị đơn ông Hồ Văn N đang cư trú tại thôn H, xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Q nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn theo quy
2 định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Thanh T và ông Hồ Văn N là vợ chồng có đăng ký kết hôn với nhau vào Ny 03 tháng 5 năm 2013 tại UBND phường Vĩnh Điện, việc kết hôn là tự nguyện. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông N là hôn nhân hợp pháp.
Trong quá trình chung sống, bà T cho rằng ông N không lo làm ăn còn gây nợ nhiều, ông N thường xuyên đến nơi bà T làm việc gây rối và đánh bà T, từ tháng 5/2022 bà T về nhà cha mẹ sống đến nay; ông N cho rằng do dịch Covid-19 ảnh hưởng đến kinh tế gia đình, bà T là người coi trọng đồng tiền nên dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn, bản thân ông N còn thương vợ nên không đồng ý ly hôn.
Qua xác minh thì địa phương thì bà T và ông N hiện nay không sống chung với nhau, Tòa án đã 2 lần hòa giải động viên vợ chồng về chung sống nhưng không thành, bà T và ông N cũng không có biện pháp nào khắc phục mâu thuẫn vợ chồng và tại phiên toà bà T vẫn cương quyết xin được ly hôn ông N, ông N mặc dù không đồng ý ly hôn nhưng nếu bà T kiên quyết yêu cầu ly hôn thì ông N yêu cầu được nuôi con và không cấp dưỡng. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà T và ông N đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử đã thống nhất cho bà T được ly hôn ông N là phù hợp với các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Bà T và ông N khai thống nhất có một con chung là Hồ Thị Thanh Trúc, sinh Ny 08/9/2014, hiện nay con đang ở với bà T tại khối 3, phường V và đang học tại trường Tiểu học Kim Đồng. Bà T và ông N đều có nguyện vọng và đủ điều kiện nuôi con, nhưng HĐXX xét thấy nguyện vọng của con là muốn ở với mẹ và hiện nay con đang ở với bà T, do đó căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con nên HĐXX thống nhất giao con Hồ Thị Thanh Tc cho bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa, bà T không yêu cầu ông Hồ Văn N cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét. Ông N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn không ai được cản trở.
Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Tại phiên tòa các đương sự tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bà Võ Thị Thanh T là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
3
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Thanh T đối với ông Hồ Văn N về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
1/ Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Võ Thị Thanh T được ly hôn ông Hồ Văn N.
2/ Về con chung: Có 01 con chung.
Giao con Hồ Thị Thanh T, sinh Ny 08/9/2014 cho bà Võ Thị Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Võ Thị Thanh T không yêu cầu ông Hồ Văn N cấp dưỡng nuôi con. Ông Hồ Văn N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn không ai được cản trở.
3/ Về tài sản chung và nợ chung: Bà Võ Thị Thanh T và ông Hồ Văn N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4/ Về án phí: Bà Võ Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001038 Ny 13 tháng 5 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Điện Bàn. Bà Võ Thị Thanh T đã nộp đủ án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận:
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Quảng Nam;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa.
- THADS thị xã Điện Bàn;
- Những người tham gia tố tụng;
- UBND phường V;
- Lưu hồ sơ.
Lê Minh Tân
4
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Tấn Sinh Bùi Quang Trường
Lê Minh Tân
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Nam. - THADS thị xã Điện Bàn. - Những người tham gia tố tụng - UBND phường Điện Nam Trung - Lưu hồ sơ. TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN TỈNH QUẢNG NAM Vào hồi 14 giờ 15 phút, Ny 01 tháng 8 năm 2022 Tại: Trụ sở TAND thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Minh Tân - Các Hội thẩm nhân dân: 5 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2022/QĐXXST-HNGĐ Ny 13 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự: Vĩnh Điện, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. 1.Về xác định mối quan hệ pháp luật: Tranh chấp: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100% 2.Về điều luật áp dụng luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100% 3.Về nội dung tranh chấp: N về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. 2/ Về con chung: Có 01 con chung. tiếp nuôi dưỡng. Bà Võ Thị Thanh T không yêu cầu ông Hồ Văn N cấp dưỡng nuôi con. ai được cản trở. yêu cầu Tòa án giải quyết. nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001038 Ny 13 tháng 5 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Điện Bàn. Bà Võ Thị Thanh T đã nộp đủ án phí. thẩm. Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100% Nghị án kết thúc vào hồi 14 giờ 30 Ny 01 tháng 8 năm 2022 nghe và ký tên dưới đây. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Quang Vĩnh Bùi Quang Trường TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN TỈNH QUẢNG NAM Vào hồi 15 giờ 05 phút, Ny 25 tháng 01 năm 2022. Nam. Với Hội đồng xét sơ thẩm gồm: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Trung Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Phi Long Ny 07/01/2022 giữa các đương sự: huy quân sự thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. xã Điện Trung, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. 115, Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. ông Trần Trung Tiếng đối với bà Nguyễn Thị Thu Hà. Kết quả biểu quyết: 3/3 (100%). Thị Thu Hà. Nguyễn Thị Thu Hà trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên (18 tuổi). theo quy định luật hôn nhân và gia đình. Kết quả biểu quyết: 3/3 (100%) Điện Bàn, ông Trần Trung Tiếng còn phải nộp 300.000 đồng. thời hạn 15 Ny kể từ Ny nhận được cấp, tống đạt hợp lệ bản án. Kết quả biểu quyết: 3/3 (100%) Nghị án kết thúc vào hồi 15 giờ 20 phút, cùng Ny. cùng nghe và cùng ký tên dưới đây. Thành viên Hội đồng xét xử | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa. 5 Lê Minh Tân CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc BIÊN BẢN NGHỊ ÁN 6 1. Ông Đinh Quang Vĩnh; 2/ Ông Bùi Quang Trường. Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số: 90/2022/TLST-HNGĐ Ny 13 tháng - Nguyên đơn: Bà Võ Thị Thanh T, sinh năm: 1988; Địa chỉ: Khối 3, phường - Bị đơn: Ông Hồ Văn N, sinh năm: 1988; Địa chỉ: Thôn Hà An, xã Điện Phong, Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận HỒI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Thanh T đối với ông Hồ Văn 1/ Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Võ Thị Thanh T được ly hôn ông Hồ Văn N. 7 Giao con Hồ Thị Thanh Trúc, sinh Ny 08/9/2014 cho bà Võ Thị Thanh T trực Ông Hồ Văn N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn không 3/ Về tài sản chung và nợ chung: Bà Võ Thị Thanh T và ông Hồ Văn N không 4/ Về án phí: Bà Võ Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm Các đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 Ny kể từ Ny tuyên án sơ Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng Lê Minh Tân 8 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Tại phòng nghị án Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Ông Nguyễn Lương Thành Tiến hành nghị án đối với vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 224/2021/TLST-HNGĐ Ny 22 tháng 11 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2022/QĐXXST-HNGĐ Nguyên đơn: Ông Trần Trung Tiếng, sinh năm: 1984; HKTT: Thôn Tuy An, xã Hoài Châu Bắc, thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Nơi công tác: Ban Chỉ Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu Hà, sinh năm 1986; Địa chỉ: Thôn Nam Hà 2, HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU 9 Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 2 Điều 244, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Điều 107, Điều 110, Điều Xử Chấp nhận đơn khởi kiện về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con của Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Trung Tiếng được ly hôn với bà Nguyễn Về con chung: Giao con Trần Trung Hiếu, sinh Ny 29/01/2012 cho bà Công nhận sự thỏa thuận cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 5.000.000 đồng, kể từ tháng 01/2022 đến khi con Trần Trung Hiếu đủ tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Ông Tiếng được quyền thăm nom con chung sau khi ly hôn Về án phí Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 48 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 Ny 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Ông Trần Trung Tiếng phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000848 Ny 22/11/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 Ny kể từ Ny tuyên án sơ thẩm của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm. Riêng người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa 10 11 |