vanban.org

Bản án 162/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị D đối với ông Nguyễn Thanh T về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị D được ly hôn ông Nguyễn Thanh T. Về con chung: Bà Lê Thị D được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung Nguyễn Văn T, sinh ngày 23/5/2005 và Nguyễn Hoài T, sinh ngày 24/4/2011. Ông Nguyễn Thanh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp ông… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Lê Thi D - ông Nguyễn Thanh T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị D đối với ông Nguyễn Thanh T về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ D
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 162/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 31-8-2022
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ D, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Thu Vân

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thu Vân

Ông Nguyễn Văn Nông

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Duy Long – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Vương – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 396/2022/TLST-HNGĐ ngày 20/6/2022 về việc “tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 184/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 106/2022/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị D, sinh năm 1987; địa chỉ thường trú: Ấp N, xã M, huyện E, tỉnh Cà Mau; địa chỉ tạm trú: Số A, khu phố Tân Phú B, phường C, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1986; địa chỉ thường trú: Ấp N, xã M, huyện E, tỉnh Cà Mau; địa chỉ tạm trú: Số A, khu phố Tân Phú B, phường C, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 13/5/2022; bản tự khai ngày 22/6/2022 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà D và ông Nguyễn Thanh T tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2012, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện E, tỉnh Cà Mau theo Giấy chứng nhận kết hôn số 74/2012, quyển số 02, ngày 01/8/2012. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc và có 02 con. Đến năm 2021 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do không hợp tính tình, thường xuyên cải nhau và vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Bà D xác định không còn tình cảm với ông T và có đơn khởi kiện ly hôn ông T.

Về con chung: Quá trình sống chung, vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 23/5/2005 và Nguyễn Hoài T, sinh ngày 24/4/2011. Khi ly hôn bà D yêu cầu được quyền nuôi dưỡng 02 chung. Bà D không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung nên bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Thanh T vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng và thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng cho ông T nhưng ông T vẫn không có ý kiến gửi cho Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn ông Phạm Văn T đã được Tòa án niêm yết hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Hôn nhân giữa bà D và ông T là hợp pháp. Quá trình sống chung vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay và hiện tại bà D không còn tình cảm với ông T, do đó, cần giải quyết ly hôn cho bà D và ông T. Về con chung, vợ chồng có 02 con chung cháu Nguyễn Văn T, sinh ngày 23/5/2005 (đã hơn 17 tuổi) và Nguyễn Hoài T, sinh ngày 24/4/2011 (đã hơn 11 tuổi), các cháu đều là có nguyện vọng được sống cùng với bà D. Do đó, cần giao cháu T và cháu T cho bà D được quyền trực tiếp nuôi dưỡng.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của đương sự và ý kiến của Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Lê Thị D khởi kiện tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với ông Nguyễn Thanh T. Ông T có địa chỉ tạm trú tại số A, khu phố Tân Phú B, phường C, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Căn cứ các Điều: 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà D và ông T tự nguyện kết hôn với nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện E, tỉnh Cà Mau theo Giấy chứng nhận kết hôn số 74/2012, quyển số 02, ngày 01/8/2012 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình sống chung, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc và có 02 con chung nhưng đến năm 2021 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân là do không hợp tính tình, thường xuyên cải nhau và vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Bà D xác định không còn tình cảm với ông T và có đơn khởi kiện ly hôn ông T. Quá trình giải quyết vụ án, bà D xác định ông T có đăng ký tạm trú tại số A, khu phố Tân Phú B, phường C, thành phố D, tỉnh Bình Dương nhưng hiện tại ông T đã bỏ đi nơi khác sinh sống. Tại Phiếu xác minh ngày 20/6/2022 Công an phường K cung cấp thông tin: “Nguyễn Thanh T, sinh năm 1986 không có sinh sống tại số A, khu phố Tân Phú B, phường C, thành phố D, tỉnh Bình Dương, không rõ đi đâu”. Tòa án nhân dân thành phố D cũng đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng tại địa chỉ tạm trú của ông T và đồng thời đăng báo tìm kiếm ông T nhưng ông T vẫn không có văn bản gửi cho Tòa án trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xét, lời trình bày của bà D và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng: Tại khoản 1 Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về tình nghĩa vợ chồng như sau: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Bà D xác định từ năm 2021 đến nay, khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn thì vợ chồng đã sống ly thân, bà D và các con vẫn sống tại số A, khu phố Tân Phú B, phường C, thành phố D, tỉnh Bình Dương, còn ông T đã bỏ đi nơi khác sinh sống, lâu lâu mới về thăm con. Hiện tại bà D không còn tình cảm với ông T. Do đó, mục đích hôn nhân giữa bà D và ông T không đạt được nên cần giải quyết cho bà D và ông T ly hôn, phù hợp Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Quá trình sống chung, bà D và ông T có 02 con chung tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 23/5/2005 và Nguyễn Hoài T, sinh ngày 24/4/2011. Khi ly hôn bà D yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Xét, yêu cầu của bà D thấy rằng: Cháu Nguyễn Văn T, sinh ngày 23/5/2005 (đã hơn 17 tuổi) và Nguyễn Hoài T, sinh ngày 24/4/2011 (đã hơn 11 tuổi), các cháu đều là có nguyện vọng được sống cùng với bà D. Hơn nữa, từ ngày vợ chồng sống ly thân vào năm 2021 đến nay, các cháu đều sống cùng với bà D, do bà D chăm sóc, nuôi dưỡng phát triển tốt. Vì vậy, để tạo điều kiện phát triển về mọi mặt và tránh làm xáo trộn cuộc sống ổn định của các cháu nên cần giao cháu Nguyễn Văn T và cháu Nguyễn Hoài T cho bà D chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Ghi nhận sự tự nguyện của bà D về việc không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án, bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp pháp luật.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà D phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều: 28, 37, 39, 147, 227, 228, 238, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 19 và các Điều: 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị D đối với ông Nguyễn Thanh T về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị D được ly hôn ông Nguyễn Thanh T.

- Về con chung: Bà Lê Thị D được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung Nguyễn Văn T, sinh ngày 23/5/2005 và Nguyễn Hoài T, sinh ngày 24/4/2011. Ông Nguyễn Thanh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp ông Nguyễn Thanh T lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà Lê Thị D có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông Nguyễn Thanh T. Vì quyền lợi hợp pháp của con, việc cấp dưỡng nuôi con, thay đổi người nuôi con sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lê Thị D về việc không yêu cầu ông Nguyễn Thanh T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Thị D không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.

2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị D phải chịu 300.000 đồng, được trừ vào 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003990, ngày 17/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố D, tỉnh Bình Dương.

3. Về chi phí đăng báo: Bà Lê Thị D phải chịu, được khấu trừ vào tiền tạm ứng đã nộp.

Bà Lê Thị D và ông Nguyễn Thanh T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thị Thu Vân

Nguyễn Văn Nông

Đào Thị Thu Vân

Cỡ chữ