- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Lê Tuyết X và anh Nguyễn Văn T xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Tuyết X và anh Nguyễn Hùng T được ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 151 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 152 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 162/2020/HNGĐ-ST Ngày 30-10-2020 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Vân Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Vũ Thị Minh Nguyệt
Ông Nguyễn Huy Vĩnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Ngày 30 tháng 10 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 179/2020/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2020 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 222/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lê Tuyết X, sinh năm 1984, nơi cư trú: Số 62 Nguyễn Hồng Quân, phường Th, quận HB, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Hùng T, sinh năm 1983, nơi cư trú: Số 2 Plaxa Santiago Sas, 50003, Zaragoza, Tây Ban Nha, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án chị Lê Tuyết X trình bày:
Chị và anh Nguyễn Hùng T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn tại UBND phường Th, quận HB, thành phố Hải Phòng vào ngày 12 tháng 4 năm 2010. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc thời gian đầu. Đến khoảng giữa năm 2014, anh Nguyễn Hùng T sang Tây Ban Nha làm ăn, sinh sống. Thời gian đầu anh T vẫn liên lạc với chị nhưng sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng trong quán điểm sống, lối sống. Chị và anh T đã không còn yêu thương, quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không còn khả năng đoàn tụ nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Nguyễn Hùng T.
Về con chung: Chị và anh Nguyễn Hùng T có 01 con chung là Nguyễn Lê Thư, sinh ngày 05 tháng 6 năm 2011. Khi ly hôn chị và anh T thỏa thuận giao cháu Nguyễn Lê Thư cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Về cấp dưỡng nuôi con, anh chị tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh chị không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai của anh Nguyễn Hùng T có hợp pháp hóa lãnh sự trình bày:
Anh và chị Lê Tuyết X kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn tại UBND phường Th, quận HB, thành phố Hải Phòng vào ngày 12 tháng 4 năm 2010. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc thời gian đầu. Đến khoảng giữa năm 2014, anh sang Tây Ban Nha làm ăn, sinh sống. Thời gian đầu tình cảm vợ chồng vẫn bình thường nhưng sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng trong quan điểm sống, lối sống, vợ chồng không tin tưởng nhau. Mâu thuẫn ngày càng căng thẳng và trầm trọng vào năm 2015, từ đó đến nay anh và chị X sống ly thân, không còn quan hệ gì về mặt tình cảm và kinh tế. Nay chị X làm đơn yêu cầu ly hôn với anh, anh đồng ý.
Về con chung: Anh và chị Lê Tuyết X có 01 con chung là Nguyễn Lê Thư, sinh ngày 05 tháng 6 năm 2011. Khi ly hôn anh T đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của cháu là được ở với chị Lê Tuyết X. Về cấp dưỡng nuôi con, anh chị tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh chị không có tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thẩm quyền: Chị Lê Tuyết X làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết việc ly hôn với anh Nguyễn Hùng T. Anh Nguyễn Hùng T hiện đang cư trú tại Tây Ban Nha. Theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 469, Điều 470 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Chị Lê Tuyết X và anh Nguyễn Hùng T vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có ý kiến yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng T hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Tuyết X và anh Nguyễn Hùng T kết hôn
trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 12 tháng 4 năm 2010 tại UBND phường Th, quận HB, thành phố Hải Phòng. Theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Chị Lê Tuyết X và anh Nguyễn Hùng T thống nhất nguyên nhân mâu thuẫn do khoảng cách địa lý xa xôi, bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng thiếu tin tưởng nhau. Chị X và anh T đã ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Xét việc chị Lê Tuyết X và anh Nguyễn Hùng T cùng thuận tình yêu cầu ly hôn, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị X và anh T đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn phù hợp quy định tại Điều 55 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Tuyết X và anh Nguyễn Hùng T, theo quy định khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Lê Thư, sinh ngày 05 tháng 6 năm 2011. Khi ly hôn, chị X và anh T thống nhất giao con chung cho chị X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Điều này cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu Nguyễn Lê Thư là được ở với mẹ. Vì vậy, căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình, giao con chung cho chị Lê Tuyết X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị X và anh T tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về tài sản chung: Anh chị không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Lê Tuyết X phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 51, 55, 56, khoản 2 Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 151, Điều 152, Điều 153, Điều 154, khoản 1 Điều 228, Điều 273, Điều 469, Điều 470, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Tuyết X và anh Nguyễn Hùng T được ly hôn.
2. Về con chung và tài sản chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Lê Thư, sinh ngày 05 tháng 6 năm 2011 cho chị Lê Tuyết X được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Lê Tuyết X phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí Tòa án số AA/2016/0019037 ngày 14 tháng 10 năm 2020 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Lê Tuyết X đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Chị Lê Tuyết X có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Anh Nguyễn Hùng T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
5. Về quyền yêu cầu thi hành án: Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: - VKSND TP Hải Phòng; - Cục THADS TP Hải Phòng; - UBND phường Th, quận HB, Hải Phòng; - Đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Thị Vân Thúy |