vanban.org

Bản án 162/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 17/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trương Vũ L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Trương Vũ L 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt truy nã ngày 26/4/2018. Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại tổng số tiền 80.557.561đ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Vũ L phạm tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trương Vũ L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 162/2018/HS-ST
Ngày 17 – 9 – 2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hứa Minh Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hoàng Kha

Bà Trần Kim Nguyện

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Út, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa:

Ông Trương Hoàng Lo – Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.

Từ ngày 14 đến ngày 17 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 143/2018/TLST-HS ngày 20 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 586/2018/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trương Vũ L, sinh năm 1993, tại Cà Mau, “có mặt”.

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Số 143, Tr Ph X, khóm 5, phường 8, thành phố C, tỉnh Y; nơi tạm trú: Tr Ph X, khóm 4, phường 8, thành phố C, tỉnh Y; nghề nghiệp: Huấn luyện viên võ thuật; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trương Văn Q (đã chết) và bà: Trương Thị L; chưa có vợ và con; tiền án: Không, tiền sự: Không; bị bắt truy nã ngày 26/4/2018; tạm giam ngày 29/4/2018 cho đến nay.

- Bị hại: Anh Nguyễn Quang Kh, sinh năm: 1980 “có mặt”.

Địa chỉ cư trú: Ấp Th Đ, xã L V L, Tp.C, tỉnh Y.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 19/7/2017, Nguyễn Quang Kh, Trần Nguyễn D, Lê Minh L cùng tham gia nhậu tại phòng trọ của anh Kh, riêng Trương Vũ L ngồi tại phòng trọ anh Kh nhưng không tham gia nhậu.

Trong lúc nhậu, Kh, D, L ngồi dưới nền xi măng, còn L ngồi trên ghế mũ nhựa nên Kh không đồng ý. Kh cho rằng L còn nhỏ mà ngồi trên cao dẫn đến L và Kh xảy ra mâu thuẫn cự cải nhau. L dùng tay đánh một cái vào mặt Kh làm cho Kh té ngữa ra sau, L tiếp tục dùng chân đạp vào bụng của Kh. Sau khi đánh Kh, L kêu L ra xe về, còn Kh kêu D điện cho em ruột của Kh là Nguyễn Quang S đưa Kh đi Bệnh viện đa khoa Cà Mau điều trị.

Tại bản kết luật giám định pháp y về thương tích số: 14/TgT ngày 28/8/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Cà Mau kết luận đối với Nguyễn Quang Kh.

1. Dấu hiệu chính qua giám định.

- 01 vết sẹo đường trắng giữa trên – dưới rốn, kích thước: 15,5cm x 0,2cm. Sẹo phẩu thuật.

- 01 sẹo dẫn lưu hạ sườn phải, kích thước: 1,5 cm x 1,5cm.

- 02 sẹo dẫn lưu hố chậu phải, kích thước 1: 1,5cm x 0,5cm, kích thước 2: 1,5cm x 0,6cm.

- Thủng tá tràng đoạn D2 đã phẫu thuật khâu lỗ thủng- Triệt môn vị - Nối vị tràng.

- Gãy cung sau xương sườn VIII bên trái.

2. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tính theo công thức cộng lùi quy định tại khoản 1, Điều 4 của thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 12/6/2014 của Bộ y tế hiện tại là: 42% (Bốn mươi hai phần trăm).

Tại bản kết luận giám định pháp y bổ sung về thương tích số: 87/TgT ngày 01/11/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Cà Mau kết luận:

1. Dấu hiệu chính qua giám định.

- Tràn dịch ổ bụng lượng nhiều – Nhiều hơi tự do ổ bụng vùng trước gan. Đây là dấu hiệu do thủng tá tràng đoạn D2 gây ra. Sau khi phẫu thuật khâu lỗ thủng - Triệt môn vị - Nối vị tràng và tiến hành rửa ổ bụng và dẫn lưu thì không còn dịch.

- Gan to lan tỏa là bệnh lý.

- Thủng tá tràng đoạn D2 là do vật tày gây ra. Vật tày tác động trực tiếp vào thành bụng gây ra tổn thương, thủng tá tràng đoạn D2. Thương tích này do chấn thương gây ra, không phải bệnh lý.

- Gãy cung sau xương sườn VIII bên trái do vật tày gây ra. Vật tày tác động trực tiếp gây tổn thương gãy xương sườn khi lành để lại hình ảnh như trên.

2. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tính theo công thức cộng lùi quy định tại khoản 1 Điều 4 của thông tư số 20/2014/TT-BYT, ngày 12 tháng 6 năm 2014 của Bộ y tế hiện tại là:

Ngày 20/9/2017, Trung tâm pháp y tỉnh Cà Mau có Công văn số: 11/CV-TTPY trả lời về việc tách tỷ lệ các vết thương của Nguyễn Quang Kh tại thời điểm giám định như sau:

- 01 vết sẹo đường trắng giữa trên – dưới rốn, kích thước: 15,5cm x 0,2cm. Sẹo phẫu thuật. Tỷ lệ 5%.

- 01 sẹo dẫn lưu hạ sườn phải, kích thước: 1,5 cm x 1,5cm. Tỷ lệ 1%.

- 02 sẹo dẫn lưu hố chậu phải, kích thước 1: 1,5cm x 0,5cm, Tỷ lệ 1%. Kích thước 2: 1,5cm x 0,6cm. Tỷ lệ 1%.

- Thủng tá tràng đoạn D2 đã phẩu thuật khâu lỗ thủng - Triệt môn vị - Nối vị tràng. Tỷ lệ 35%.

- Gãy cung sau xương sườn VIII bên trái. Tỷ lệ 3%.

Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định (không tính phần trăm các vết phẫu thuật và dẫn lưu) là 37% (ba mƣơi bảy phần trăm) (Cộng theo Công thức cộng lùi).

Quá trình điều tra, Trương Vũ L thành khẩn thừa nhận dùng tay đánh vào mặt và dùng chân phải đạp vào bụng của anh Kh, đồng thời L đã tác động gia đình nộp khắc phục 2.000.000đ cho bị hại.

- Đối với anh Nguyễn Quang Kh hiện yêu cầu L bồi thường số tiền là 91.583.551 đồng, gồm các khoản sau:

+ Tiền thuốc, chi phí nằm bệnh viện có chứng từ: 16.083.551đ;

+ Tiền lao động chạy xe ôm 365 ngày: 36.500.000đ;

+ Tiền ăn uống điều trị bệnh: 3.000.000đ x 6 tháng = 18.000.000đ;

+ Tiền ăn uống người nuôi bệnh: 3.000.000đ x 3 tháng = 9.000.000đ;

+ Tiền lao động của người nuôi bệnh: 3.000.000đ x 3 tháng = 9.000.000đ;

+ Tiền xe bao đi điều trị bệnh + thay băng: 3.000.000đ.

Ngoài ra, anh Kh còn yêu cầu L bồi thường tiền tổn thất tinh thần theo quy định của pháp luật.

Tại cáo trạng số: 145/CT-VKS ngày 19/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau truy tố bị cáo Trương Vũ L về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với Trương Vũ L theo cáo trạng số: 145/CT-VKS ngày 19 tháng 7 năm 2018 và đề nghị:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Vũ L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trương Vũ L từ 03 năm đến 04 năm tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Buộc Trương Vũ L bồi thường cho anh Nguyễn Quang Kh tổng số tiền 77.414.000đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Theo đó thể hiện: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 19 tháng 7 năm 2017, tại ấp Thạnh Điền, xã Lý Văn Lâm, thành phố Cà Mau, Trương Vũ L đã có hành vi dùng tay đánh vào mặt anh Nguyễn Quang Kh làm anh Kh té ngã ngữa rồi dùng chân đạp vào bụng của anh Kh, hậu quả anh Kh bị gãy cung sau xương sườn VIII bên trái, thủng tá tràng đoạn D2 với tỷ lệ thương tích là: 37%.

Các tài liệu, chứng cứ Cơ quan điều tra thu thập trong quá trình điều tra gồm: Biên bản tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, biên bản nhận dạng, hồ sơ bệnh án, giấy chứng nhận thương tích, các biên bản ghi lời khai của những người chứng kiến sự việc, các lời khai của bị cáo, các lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được phù hợp với bản kết luận giám định pháp y về thương tích, biên bản hỏi cung bị can, kết luận điều tra. Thấy rằng, bị cáo là huấn luyện viên võ thuật, trong lúc anh Kh nhậu cùng nhóm bạn, bị cáo ngồi trên ghế, anh Kh không đồng ý nên xảy ra cự cải. Bị cáo dùng tay đánh vào mặt anh Nguyễn Quang Kh làm anh Kh té ngã ngữa rồi dùng chân đạp vào bụng của anh Kh, hậu quả anh Kh bị gãy cung sau xương sườn VIII bên trái, thủng tá tràng đoạn D2 với tỷ lệ thương tích là: 37%. Do vậy, hành vi đó của bị cáo đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 104 của Bộ luật hình sự năm 1999 đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát đã nêu. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 3 Điều 7 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 và hướng dẫn tại điểm b khoản 1 Điều 2 của Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội thì hành vi phạm tội của bị cáo được áp dụng theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 có lợi cho bị cáo, đúng với đề nghị của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà và đúng với bản Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khoẻ của anh Kh một cách trái pháp luật, với lỗi cố ý trực tiếp. Bản thân bị cáo là huấn luyện viên võ thuật nên biết rõ việc dùng tay đánh vào mặt anh Kh và dùng chân đạp vào bụng anh Kh sẽ gây thương tích cho anh Kh, là vi phạm pháp luật, có thể dẫn đến nguy hiểm đến tính mạng, nhưng vì mâu thuẫn không đáng có, sự tức giận vô cớ mà bị cáo gây thương tích cho anh Kh bằng tay, chân, theo giấy chứng nhận thương tích và kết luận giám định thể hiện thương tích anh Kh bị gãy cung sau xương sườn VIII bên trái, thủng tá tràng đoạn D2 với tỷ lệ thương tích là: 37%. Điều đó chứng tỏ bị cáo bất chấp luật pháp, xem thường sức khoẻ của người khác. Do đó, bị cáo phải gánh chịu hậu quả do chính hành vi mình đã gây ra.

Hành vi của bị cáo không những đã xâm phạm đến sức khoẻ của anh Kh mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương, gây hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân.

Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức giáo dục và cho bị cáo có thời gian suy ngẫm, cải sửa lỗi lầm của mình đồng thời cũng nhằm bảo đảm tính răn đe, trừng trị của pháp luật và phòng ngừa chung trong xã hội.

Song, xét quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi gây thương tích cho anh Kh, bị cáo tác động gia đình nộp khắc phục hậu quả cho anh Kh số tiền 2.000.000đ. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xét thấy các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên được thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đúng theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, anh Nguyễn Quang Kh yêu cầu bị cáo bồi thường các khoản với tổng số tiền 91.583.551đ. Ngoài ra, anh Kh còn yêu cầu L bồi thường tiền tổn thất tinh thần theo quy định của pháp luật.

Xét thấy, theo tinh thần Nghị quyết số: 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08 tháng 07 năm 2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì các khoản chi phí do người bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường chưa hợp lý, nên cần phải điều chỉnh như sau:

Anh Kh nhập viện điều trị 02 đợt: Đợt 1 từ ngày 19/7/2017 đến ngày 03/8/2017; đợt 2 từ ngày 15/8/2017 đến ngày 22/8/2017, tổng số 23 ngày, với các chi phí:

+ Tiền thuốc, chi phí nằm bệnh viện có chứng từ: 8.957.561đ;

+ Tiền ăn người bệnh: 23 ngày x 100.000đ = 2.300.000đ;

+ Tiền ăn người nuôi bệnh: 23 ngày x 1000.000đ = 2.300.000đ;

+ Tiền mất thu nhập người bệnh: 23 ngày x 1000.000đ = 2.300.000đ;

+ Tiền mất thu nhập người nuôi bệnh: 23 ngày x 1000.000đ = 2.300.000đ;

+ Tiền mất sức lao động được tính 12 tháng x 100.000đ = 36.000.000đ;

+ Tiền xe đi điều trị bệnh chấp nhận 02 lượt: 600.000đ;

+ Tiền tổn thất tinh thần chấp nhận bằng 20 tháng lương cơ sở 27.800.000đ.

Tổng các khoản yêu cầu của anh Kh được chấp nhận là 82.557.561đ.

Bị cáo đã nộp khắc phục 2.000.000đ nên được đối trừ, số tiền còn lại bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho bị hại là 80.557.561đ.

Riêng khoản tiền chi phí tái khám, điều trị thương tích phát sinh về sau, nếu có căn cứ thì người bị hại có quyền yêu cầu bị cáo bồi thường trong một vụ án khác, không đề cập xem xét trong vụ án này.

Án phí hình sự sơ thẩm buộc bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 7; điểm a khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; căn cứ Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

- Tuyên bố bị cáo Trương Vũ L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Xử phạt bị cáo Trương Vũ L 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt truy nã ngày 26/4/2018.

- Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại tổng số tiền 80.557.561đ.

Kể từ ngày bị hại có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo không thi hành xong khoản tiền bồi thường nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.

- Không chấp nhận yêu cầu của bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền chênh lệch là 11.025.990đ.

- Án phí hình sự sơ thẩm buộc bị cáo phải chịu là 200.000đ; án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch buộc bị cáo phải chịu 4.027.000đ (chưa nộp).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ