- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 161/2025/HNGĐ-ST Ngày 15-5-2025 V/v: “Tranh chấp Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thành Quang
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đỗ Mỹ Lil
2. Ông Nguyễn Minh Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Hường - Thư ký viên, Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Ngày 15 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 76/2025/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2025/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Võ Thị T, sinh năm 1984.
2. Bị đơn: Anh Ngô Minh C, sinh năm 1981.
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
(Nguyên đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn chị Võ Thị T trình bày:
Về hôn nhân: Nguyên đơn và anh C xác lập quan hệ hôn nhân từ năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Quá trình sống chung, vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng về quan điểm sống, sống không còn hạnh phúc. Nay, nguyên đơn nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu được ly hôn với anh C.
Về con chung: Vợ chồng có 02 người chung Ngô Minh M, sinh năm 2002 (giới tính: Nam) và cháu Ngô Thúy A, sinh ngày 20/8/2010 (giới tính: Nữ), hiện cháu M đã trưởng thành, không có yêu cầu giải quyết về trách nhiệm nuôi dưỡng, còn cháu Thúy A đang sống chung với nguyên đơn. Khi ly hôn, nguyên đơn yêu cầu được quyền nuôi dưỡng cháu Thúy A đến tuổi trưởng thành.
Về cấp dưỡng, tài sản, nợ: Không có yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nay, nguyên đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định.
- Đối với bị đơn anh Ngô Minh C: Từ khi thụ lý, Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt, niêm yết đúng theo quy định của pháp luật, nhưng bị đơn vắng mặt, không có văn bản nêu ý kiến gửi đến Tòa án.
Vụ án, được Tòa án tiến hành công khai chứng cứ và lập biên bản không tiến hành hòa giải được, do bị đơn vắng mặt.
Quá trình giải quyết vụ án, xét thấy đối với cháu Ngô Minh M đã trưởng thành, còn cháu Ngô Thúy A Toà án chưa ghi nhận được nguyện vọng của cháu.
Tại phiên tòa, nguyên đơn đã có đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt, còn bị đơn vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về sự vắng mặt của đương sự:
Đối với nguyên đơn là chị T đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, còn bị đơn là anh C đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt.
Căn cứ các điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, cần xét xử vắng mặt đối với các đương sự nêu trên, là phù hợp.
Về quan hệ pháp luật: Được xác định là “Tranh chấp về Ly hôn”, bị đơn có nơi cư trú tại ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Từ đó, Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 39, do Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau cấp ngày 22/4/2009, cho thấy quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh C được xem là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Quá trình giải quyết vụ án, chị T xác định hôn nhân giữa chị T và anh C đã phát sinh mâu thuẫn, không còn hạnh phúc và mục đích hôn nhân không đạt được, chị T khởi kiện để được ly hôn với anh C. Đối với anh C vắng mặt, không tham gia tố tụng và cũng không có văn bản thể hiện ý kiến phản hồi gì trước yêu cầu ly hôn của chị T. Cho thấy, anh C đã không quan tâm đến việc hàn gắn hạnh phúc gia đình với chị T. Tại Đơn yêu cầu xét xử vắng mặt ngày 25/02/2025 chị T vẫn kiên quyết ly hôn với anh C. Theo Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và có nghĩa vụ chung sống với nhau. Mặt khác, theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 4 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình: “Điều 4. Ly hôn theo yêu cầu của một bên quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. 3. “Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” là thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Không có tình nghĩa vợ chồng, ví dụ: vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau; vợ, chồng sống ly thân, bỏ mặc vợ hoặc chồng;”. Xét, hôn nhân giữa chị T và anh C đã thật sự trầm trọng, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu khởi kiện của chị T là có căn cứ được chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị T được ly hôn với anh C phù hợp với Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Giữa chị T và anh C có 02 người chung cháu Ngô Minh M, sinh năm 2002 (giới tính: Nam) và cháu Ngô Thúy A, sinh ngày 20/8/2010 (giới tính: Nữ).
Xét:
- Đối với cháu Ngô Minh M, sinh năm 2002, như vậy tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 15/5/2025, thì cháu M đã trưởng thành, phát triển bình thường, nên không đặt ra giải quyết về trách nhiệm nuôi dưỡng.
- Đối với cháu Ngô Thúy A, sinh ngày 20/8/2010, tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 15/5/2025 thì cháu Trung N đã trên 07 tuổi, phải ghi nhận nguyện vọng của cháu, theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “...; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.
Quá trình giải quyết vụ án, xét thấy khi chị T nộp đơn xin ly hôn với anh C, đồng thời chị T nộp luôn Đơn yêu cầu xét xử vắng mặt ngày 25/02/2025, nên Toà án chưa ghi nhận được nguyện vọng của cháu Thúy A. Tuy nhiên, tại Đơn khởi kiện ngày 25/02/2025 chị T xác định hiện cháu Thúy A đang sống chung với chị T, khi ly hôn chị T yêu cầu được quyền nuôi dưỡng cháu Thúy A đến tuổi trưởng thành, đối với anh C vắng mặt nên không có cơ sở xem xét. Do đó Hội đồng xét xử, xét vì lợi ích của con chung, đảm bảo ổn định trong cuộc sống, cần giao cháu Thúy A cho chị T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi cháu Thúy A đủ 18 tuổi, phù hợp với khoản 1 Điều 6 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng, tài sản, nợ: Chị T xác định không có yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết, trường hợp có tranh chấp sẽ được giải quyết ở vụ án khác.
Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, nên chị T phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Các điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Các điều 51, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC.
- Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị T.
1/ Về hôn nhân: Cho chị Võ Thị T được ly hôn với anh Ngô Minh C.
2/ Về con chung: Giao cháu Ngô Thúy A, sinh ngày 20/8/2010 (giới tính: Nữ) cho chị Võ Thị T được quyền trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu Ngô Thúy A đủ 18 (mười tám) tuổi.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Trường hợp, bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Khi thấy cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3/ Về cấp dưỡng, tài sản, nợ: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết, trường hợp có tranh chấp sẽ được xem xét giải quyết ở vụ án khác.
4/ Về án phí: Chị Võ Thị T phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền 300.000 đồng, đối trừ với số tiền 300.000 đồng mà chị T đã dự nộp tại Biên lai thu 0005250 ngày 25/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, nay được chuyển thu.
5/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
“Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - Các đương sự (02b); - VKSND H. Trần Văn Thời (01b); - Chi cục THADS H. Trần Văn Thời (01b); - Cơ quan thực hiện việc đăng ký kết hôn (01b); - Lưu hồ sơ vụ án (01b); - Lưu án văn (01b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Thành Quang |