- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Long H - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cá Ph n L ng H phạm tội “Lừ" đả0 chiếm đ0ạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 54 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN TH!NH KHÊ-TP ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 161/2024/HS-ST Ngày: 17/12/2024 |
NHÂN D!NH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨ! VIỆT N!M
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN TH!NH KHÊ - TP ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọ" phiên tò":
Bà Lê Thị ThS B .
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông NgSyễn DSy Thả
Bà NgSyễn Thị Hồng
Thư ký phiên tò : Ông Đ àn Công Hồng Lĩnh - Thư ký Tò án nhân dân quận Th nh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Th nh Khê, thành phố Đà Nẵng th m gi phiên tò : Ông Ngô Mạnh Lân - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở T à án nhân dân quận Th nh Khê, hành phố Đà Nẵng xét xử s thẩm công kh i vụ án hình sự thụ lý số: 162/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 thD Quyết định đư vụ án r xét xử số: 162/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2024 đối với bị cá :
Ph n L ng H - Tên gọi khác: không - Giới tính: N m - Sinh ngày 08 tháng 7 năm 1981, tại tỉnh Hà Tỉnh - N i thường trú: Tổ 16, phường Hò Khánh N quận L, thành phố Đà Nẵng - Chỗ ở: K119/9/22/17 Phạm Như X, thành phố Đà Nẵng - Nghề nghiệp: L động phổ thông -Trình độ học vấn: Lớp 12/12 - Quốc tịch: Việt N m - Dân tộc: Kinh - Tôn giá : Không.
Tiền án, tiền sự: Không.
C n ông Ph n Văn Lưu (Chết) và bà Ph n Thị Sâm - Sinh năm 1945.
Gi đình có 05 người c n, bị cá là c n thứ 04;
Vợ Phạm Thị Lệ Nhung - Sinh năm 1986. Có 01 c n sinh năm 2005.
Bị cá bị bắt tạm gi m từ ngày 24/7/2024, hiện đ ng tạm gi m tại Nhà tạm giữ Công n quận Th nh Khê, thành phố Đà Nẵng. Có mặt tại phiên tò .
* Người bị hại: Bà Nguyễn Thị H - Sinh năm: 1958 - Đị chỉ: 51 Huỳnh Ngọc H, quận T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt không có lý d .
* Người có quyền lợi nghĩ vụ liên qu n: Bà Lê Thị Kim C - Sinh năm: 1962 và ông Nguyễn Thái H àng - Sinh năm: 1991 - Cùng đị chỉ: 912E Nguyễn Lư ng Bằng, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt không có lý d .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
ThD các tài liệu có tr ng hồ s vụ án và diễn biến tại phiên tò , nội dung vụ án được tóm tắt như s u:
Ngày 14/5/2021 tại tổ 25, phường Hò Hiệp N m, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng, Ph n L ng H đặt cọc 70.000.000 đồng (Bảy mư i triệu đồng) ch bà Lê Thị Kim C và Nguyễn Thái H cùng trú tại số 912E Nguyễn Lư ng Bằng, thành phố Đà Nẵng để mu “Thử đất số 53, tờ bản đồ 26, đị chỉ tại xã H à Hiệp, huyện H à V ng, tỉnh Quảng N m - Đà Nẵng (cũ), n y là thử đất số 103, tờ bản đồ số 157, đị chỉ tại phường Hò Hiệp N m, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng (gọi tắt là thử đất số 53) củ vợ chồng ông Nguyễn Văn L đã chết năm 2015 và bà Lê Thị Kim C đứng tên sở hữu từ năm 1996, giá chuyển nhượng là 170.000.000 đồng (Một trăm bảy mư i triệu đồng), đồng thời thỏ thuận Hà chịu trách nhiệm liên hệ làm thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Lê Thị Kim C, rồi từ đó làm thủ tục Công chứng để s ng tên đổi chủ ch H, H gi tiền đầy đủ s u khi nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; nh H àng, bà C chịu trách nhiệm cung cấp các giấy tờ liên qu n để Hà làm thủ tục. S u khi đặt cọc, H đã 02 lần nộp hồ s tại Văn phòng đăng ký đất đ i thành phố Đà Nẵng – Chi nhánh quận Liên Chiểu thì H biết được d thử đất số 53 tiếp giáp với lộ giới đường sắt hành l ng n t àn và hành l ng bả vệ đường sắt, hướng đông không xác định được r nh giới, vị trí lô đất không có đường đi nên Văn phòng đăng ký đất đ i thành phố Đà Nẵng – Chi nhánh quận Liên Chiểu sẽ h àn trả hồ s và không cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Cúc và không thực hiện được thủ tục công chứng s ng tên ch Hà , nên ngày 22/11/2021, Hà đã rút hồ s xin cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về cất giữ.
Đến tháng 12/2021 khi nh H àng đòi trả đủ số tiền mu đất còn lại, H hứ hẹn đến tháng 03/2022 nếu không trả đủ số tiền mu đất còn lại thì H sẽ trả lại bộ hồ s gốc ch nh H và chịu mất tiền cọc.
D nợ tiền nhiều người và phải mất tiền cọc vì không làm được các thủ tục như đã thỏ thuận với nh H, bà C nên H nảy sinh ý định lừ bán thử đất số 53 ch người khác để chiếm đ ạt tài sản. Và tháng 12/2021, Hà đến nhà số 51 Huỳnh Ngọc Huệ, phường Hò Khê, quận Th nh Khê, thành phố Đà Nẵng gặp ông Từ M để tr đổi bán ch vợ chồng ông M thử đất số 53. Tại đây, H nói dối với ông M là đ ng làm hồ s xin cấp giấy chứng nhận, ông M tin tưởng nên đồng ý mu thử đất trên với giá 450.000.000 đồng (Bốn trăm năm mư i triệu đồng) và ký hợp đồng đặt cọc ch H số tiền 50.000.000 đồng (Năm mư i triệu đồng); H c m kết làm thủ tục x ng, nhận giấy chứng nhận và công chứng s ng tên ch ông M. S u khi nhận tiền từ ông M, H không làm hồ s xin cấp lại giấy chứng nhận, đến ngày 14/01/2022, H tiếp tục nói dối với ông M là đ ng làm hồ s xin cấp giấy chứng nhận và H đề nghị ông M cọc thêm 50.000.000 đồng (Năm mư i triệu đồng), ông M tin tưởng nên tiếp tục đư thêm ch H số tiền 50.000.000 đồng (Năm mư i triệu đồng); lúc này giấy cọc lần 1 h i bên huỷ và viết bằng một giấy cọc mới với số tiền cọc là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), H nói dối với ông M là sẽ làm hồ s và công chứng s ng tên ch ông M tr ng thời gi n 02 tháng kể từ ngày 14/01/2022 là ngày nhận tiền cọc lần 2. S u khi nhận tiền từ ông M, H không làm hồ s xin cấp lại giấy chứng nhận, Hà cũng không đư tiền h ặc nhờ người khác làm thủ tục xin cấp lại giấy chứng nhận mà sử dụng số tiền này tiêu xài cá nhân và trả nợ hết. S u khi hết thời gi n hẹn, ông Từ M liên lạc thì H vẫn nói dối là đ ng làm hồ s và xin thêm thời gi n 30 ngày để làm hồ s , ông M đồng ý. Cũng tr ng kh ảng thời gi n này, H đã trả lại hồ s liên qu n đến thử đất số 53 ch nh H và chấp nhận mất tiền cọc. Đến thời hạn ông M tiếp tục liên lạc với H, thì H mới nói ch ông M biết thử đất số 53 không làm giấy tờ được và hứ trả lại tiền cọc ch ông M, nhưng d đã tiêu hết tiền, nợ tiền nhiều người, mất khả năng chi trả nên Hà không thực hiện việc trả lại tiền cọc và bỏ đi khỏi đị phư ng. Đến tháng 5/2023, ông Từ M chết, vợ ông Minh là bà Nguyễn Thị H tiếp tục tìm H đòi tiền, nhưng H vẫn không trả nên ngày 30/9/2023, bà Hường làm đ n tố cá đến Công n phường Hò Khê.
* Vật chứng tạm g ữ và xử lý vật chứng: 01 hợp đồng đặt cọc giữ bà Lê Thị Kim C và Ph n L ng H (Bản chính) và các bản in tài liệu liên qu n d Ph n L ng H gi nộp; 01 hợp đồng đặt cọc giữ Ph n L ng H và ông Từ Mh được viết bằng giấy th n (Bản chính) d nh Từ Mẫn gi nộp tiếp tục lưu trữ và chuyển thD hồ s vụ án.
* Về Dân sự: Bị cá đã bồi thường đủ ch người bị hại Nguyễn Thị H yêu cầu bồi thường số tiền là 74.000.000 đồng (Bảy mư i bốn triệu đồng).
Quá trình điều tr bị cá Ph n L ng H đã kh i nhận t àn bộ hành vi phạm tội trên.
Từ những nội dung trên tại Cá trạng số 144/CT-VKS ngày 07 tháng 11 năm 2024 củ Viện kiểm sát nhân dân quận Th nh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cá Ph n L ng H về tội “Lừ đả chiếm đ ạt tài sản” thD điểm c kh ản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tò hôm n y, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước giữ nguyên nội dung cá trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
* Tuyên bố bị cá Ph n L ng H phạm tội “Lừ đả chiếm đ ạt tài sản” .
- Áp dụng điểm c kh ản 2 Điều 174, điểm b, s kh ản 1, kh ản 2 Điều 51, điểm g kh ản 2 Điều 52 và kh ản 1 Điều 54 củ Bộ luật Hình sự xử phạt bị cá Ph n L ng H từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu gì thêm nên không đề cập đến
Tại phiên tò bị cá Ph n L ng H nói lời nói s u cùng Bị cá đã biết lỗi, hối hận về hành vi củ mình và đề nghị HĐXX xDm xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦ! TÒ! ÁN:
Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ và các tài liệu tr ng hồ s vụ án đã được tr nh tụng tại phiên tò , Hội đồng xét xử nhận định như s u:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng củ C qu n Cảnh sát điều tr Công n quận Th nh Khê, Điều tr viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Th nh Khê, Kiểm sátviên tr ng quá trình điều tr , truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định củ Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tr và tại phiên tò , bị cá không có ý kiến h ặc khiếu nại về hành vi, quyết định củ C qu n tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. D đó, các hành vi, quyết định tố tụng củ C qu n Cảnh sát điều tr Công n quận Th nh Khê, Điều tr viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Th nh Khê, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tr , xét hỏi và tr nh luận tại phiên tò : Bị cá Ph n L ng H đã kh i nhận t àn bộ hành vi phạm tội củ mình, lời nhận tội củ bị cá phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập tr ng hồ s vụ án và kết quả tr nh tụng tại phiên tò , Hội đồng xét xử có đủ c sở kết luận: Tr ng tháng 12 năm 2021 và ngày 14/01/2022 tại số nhà 51 Huỳnh Ngọc Huệ, Ph n L ng H đã đư r thông tin gi n dối về việc có thể làm được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để chuyển nhượng thử đất số 53 tờ bản đồ số 157 phường Hò Hiệp N m, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng nhằm chiếm đ ạt tài sản củ ông Từ Minh 02 lần, mỗi lần 50.000.000 đồng (Năm mư i triệu đồng). Tổng số tiền mà Hà chiếm đ ạt là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). D đó, hành vi củ bị cá Ph n L ng H đủ yếu tố cấu thành tội “Lừ đả chiếm đ ạt tài sản” thD quy định tại điểm c kh ản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Như vậy, Cá trạng số 144/CT-VKS ngày 07/11/2024 củ Viện Kiểm sát nhân dân quận Th nh Khê, thành phố Đà Nẵng truy tố bị cá là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân củ bị cá thì thấy:
Bị cá là người có sức khỏD, có việc làm nhưng vì muốn có tiền tiêu xài và trả nợ nên đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, lợi dụng việc mu bán quyền sử dụng đất, đã nói dối người bị hại là sẽ làm được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để chiếm đ ạt tài sản. Hành vi củ bị cá đã xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản củ người khác, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị n xã hội, nên bị cá phải chịu hình phạt tư ng xứng với hành vi phạm tội mà bị cá đã gây r để thể hiện sự nghiêm minh củ pháp luật, cần cách ly bị cá r khỏi xã hội một thời gi n nhằm mục đích răn đD, giá dục.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cá Ph n L ng H đã thực hiện 02 lần hành vi lừ đả và tháng 12/2021 và ngày 14/01/2022 nên bị cá phải chịu tình tiết tăng tặng thD quy định tại điểm g kh ản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tr ng quá trình điều tr và tại phiên t à, bị cá Ph n L ng H có thái độ thành khẩn kh i bá , biết ăn năn hối cải, đã tự nguyện khắc phục h àn t àn hậu quả ch bị hại, người bị hại có đ n xin giảm nhẹ hình phạt ch bị cá , ch bị cá ông Ph n Văn Lưu được tặng thưởng huân chư ng chiến công hạng nhất, c n bị cá là người khuyết tật nặng. Nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s kh ản 1, kh ản 2 Điều 51 củ Bộ luật hình sự ch bị cá .
D bị cá có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại kh ản 1 Điều 51 nên HĐXX áp dụng kh ản 1 Điều 54 củ Bộ luật hình sự khi lượng hình ch bị cá
[5] Hình phạt bổ sung: Hiện n y bị cá việc làm không ổn định, không có tài sản gì nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cá .
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại đủ số tiền 74.000.000đ và không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không đề cập đến.
[7] Án phí HSST: Bị cá Ph n L ng H phải chịu thD quy định củ pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ và điểm c kh ản 2 Điều 174, điểm b, s kh ản 1, kh ản 2 Điều 51, điểm g kh ản 1 Điều 52 và kh ản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cá Ph n L ng H phạm tội “Lừ" đả0 chiếm đ0ạt tài sản”.
2. Xử phạt: Bị cá Ph n L ng H 01 (một) năm tù về tội “Lừ" đả0 chiếm đ0ạt tài sản” Thời gi n chấp hành hình phạt kể từ ngày 24/07/2024.
3. Án phí hình sự s thẩm: Căn cứ và Điều 136 củ Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 củ Ủy b n thường vụ Quốc Hội quy địnhvề mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tò án.
Bị cá Ph n L ng H phải chịu với số tiền là 200.000đ (h i trăm nghìn đồng).
4. Bị cá , có mặt tại phiên tò có quyền kháng cá bản án tr ng hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 17/12/2024.
Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩ vụ liên qu n vắng mặt tại phiên t à có quyền kháng cá bản án tr ng hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án h ặc bản án được niêm yết thD quy định củ pháp luật. Nơ nhận:
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- Bị cá
| - Những người th m gi tố tụng- - Viện kiểm sát nhân dân Q. Th nh Khê- - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng- - C qu n điều tr Công n quận Th nh Khê- - C qu n thi hành án hình sự Công n TP Đà Nẵng - Tò án nhân dân thành phố Đà Nẵng - Sở tư pháp thành phố Đà Nẵng - Nhà tạm giữ Công n quận Th nh Khê - Lưu hồ s vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌ! PHIÊN TÒ! Lê Thị ThS B |