- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Đình T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K THÀNH PHỐ HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:161/2024/HS-ST Ngày: 05/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Hoàng Anh
Ông Trần Đăng Nhuận
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Huyền
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K tham gia phiên tòa:Ông Vũ Văn Thế - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 159/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 157/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Đặng Đình T - Sinh năm: 1975 (tên gọi khác: Hùng); Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi thường trú: Tố 9 phường V Hậu, quận V, thành phố Hà Nội; Nơi tạm trú: Tổ 8 phường D, quận B, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Họ và tên bố: Đặng Đình T, sinh năm 1946; Họ và tên mẹ: Đoàn Thị T, sinh năm 1950; Gia đình có 02 chị em, bị can là con thứ hai; Họ và tên vợ: Vũ Thị Kim D, sinh năm 1980; Có 02 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không
Bắt quả tang, tạm giữ ngày 29/5/2024, chuyển tạm giam ngày 04/6/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 02 - Công an Thành phố Hà Nội.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Chị Vũ Thị Kim D - sinh năm 1980,
Địa chỉ: Tổ 8, phường D, quận B, thành phố Hà Nội
(Bị cáo T, chị D có mặt tại phiên tòa).
NỘI D VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội D vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 30 phút ngày 29/5/2024, Tổ công tác Công an phường D, quận B, Thành phố Hà Nội, làm nhiệm vụ tại đầu ngõ 1, J, thị trấn C, K, Hà Nội phát hiện Đặng Đình T đang ngồi trên xe mô tô Honda Vision mang BKS: 29K1-818.38 có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật nên T hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, T thả từ bàn tay trái 01 gói giấy màu xanh bên trong chứa chất bột màu trắng là ma túy Heroine xuống đất cạnh chân T đứng. Tổ công tác yêu cầu T nhặt gói ma túy lên và T tự nguyện giao nộp cho Tổ công tác. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và đưa T về trụ sở làm việc.
Vật chứng thu giữ của Đặng Đình T gồm: 01 gói giấy màu xanh, bên trong có chứa chất bột màu trắng; 01 xilanh tiêm chưa qua sử dụng; 01 ống novocain chưa qua sử dụng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision mang BKS: 29K1-818.38.
Tại Bản kết luận giám định số 3996 ngày 07/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an TP.Hà Nội, kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu xanh là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,154 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Đặng Đình T khai nhận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 29/5/2024, Đặng Đình T một mình điều khiển xe mộ tô Honda Vision mang BKS: 29K1-818.38 từ phường D, B đến khu vực Từ Sơn, Bắc Ninh để mua ma túy về sử dụng. Tại đây, T gặp và mua 01 gói giấy màu xanhbên trong chứa ma túy Heroine của một người đàn ông không quen biết với giá 200.000 đồng. T cầm gói ma túy trong tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi tìm chỗ sử dụng. Trên đường đi T vào một hiệu thuốc bên đường mua 01 xi lanh tiêm và 01 lọ novocain rồi cất vào túi quần bên phải. Khi T đi đến ngõ 1, J, thị trấn C, K thì bị lực lượng Công an kiểm tra. Do sợ hãi nên T thả gói ma túy từ tay trái xuống đường tại chỗ T đang đứng. Cơ quan Công an lập biên bản, thu giữ vật chứng và đưa T về trụ sở làm việc.
Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo Đặng Đình T, qua trình điều tra không xác định được nhân thân nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện K không có căn cứ xử lý.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision mang BKS: 29K1-818.38 tạm giữ của Đặng Đình T, quá trình điều tra xác định là xe của chị Vũ Thị Kim D (sinh năm 1980, trú tại Tổ 8, D, B, Hà Nội, là vợ của T). Chị D không biết việc T sử dụng chiếc xe mô tô này để đi mua ma túy về sử dụng. Hiện Cơ quan điều tra Công an huyện K đã nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.
Đối với 01 bì niêm phong có ghi khối lượng 0,135 gam Heroine (khối lượng ban đầu là 0,154 gam, Phòng PC09 thu mẫu 0,019 gam); bên ngoài có chữ ký của giám định viên Vũ Việt Cường; cán bộ Trần Quốc Huy và bị cáo Đặng Đình T; 01 xilanh tiêm và 01 ống novocain đều có liên quan hành vi phạm tội nên chuyển Cơ quan Thi hành án dân sự để xử lý theo quy định.
Bản cáo trạng số: 157/CT-VKS ngày 19-8-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện K đã truy tố Đặng Đình T về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên Tòa:
Bị cáo T thừa nhận và đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội D bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của người làm chứng phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra thấy rằng: Hành vi của bị cáo Đặng Đình T có đủ dấu hiệu cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 47 của Bộ luật Hình sự 2015; Điều 106 BLTTHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017
Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo Đặng Đình T mức án từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 29/5/2024
Về hình phạt bổ sung : Không áp dụng.
Về xử lý vật chứng:
Đề nghị cho tịch thu, tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo là vật nhà nước cấm lưu hành bao gồm: 01 phong bì niêm phong bên ngoài có chữ ký xác nhận của Đặng Đình T, cán bộ công an phường D, Giám định viên. Trong phong bì niêm phong có 01 gói giấy màu xanh bên trong chứa chất bột màu trắng là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,135 gam.(Đã trừ trích mẫu giám định 0,019 gam).
-01 xilanh tiêm chưa qua sử dụng;
-01 ống novocain chưa qua sử dụng
Đề nghị trả lại cho chị Vũ Thị Kim D (sinh năm 1980, trú tại Tổ 8, D, B, Hà Nội, là vợ của T) 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision mang BKS: 29K1-818.38 số máy: JF 86E2117570, số khung: RLHJF5835KY053134. Chị D không biết việc T sử dụng chiếc xe mô tô này để đi mua ma túy về sử dụng
Nói lời sau cùng bị cáo T có mặt tại phiên tòa, qu¸ tr×nh ®iÒu tra nhận thấy việc làm của bản thân là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét mở lượng khoan hồng cho bị cáo mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội D vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đều hợp pháp.
. Về tội danh và tình tiết định khung hình phạt:
Xét lời khai nhận của bị cáo tại biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, bản kết luận giám định, lời khai người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dụng bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đồng nhất không có mâu thuẫn, tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 10 giờ 30 phút ngày 29/5/2024, tại ngõ 1, J, thị trấn C, huyện K, thành phố Hà Nội, bị cáo Đặng Đình T có hành vi tàng trữ trái phép 0,154 gam ma túy loại Heroine với mục đích để sử dụng thì bị Công an bắt giữ cùng vật chứng.
Hành vi của bị cáo Đặng Đình T đã cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện K đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo về tội danh nêu trên là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã cố ý xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy và xâm phạm trật tự an toàn xã hội được Bộ luật Hình sự bảo vệ. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm khắc đối với bị cáo.
.Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo :
Xét nhân thân bị cáo chưa tiền án tiền sự. Xét về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết giảm nhẹ TNHS của bị cáo: Khi lượng hình cũng xem xét, tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đại diện VKS đề nghị mức hình phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của HĐXX.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đại diện VKS đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của HĐXX.
Về xử lý vật chứng:
Cho tịch thu, tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo Đặng Đình T là vật nhà nước cấm lưu hành bao gồm:
-01 phong bì niêm phong bên ngoài có chữ ký xác nhận của Đặng Đình T, cán bộ công an phường D, Giám định viên. Trong phong bì niêm phong có 01 gói giấy màu xanh bên trong chứa chất bột màu trắng là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,135 gam.(Đã trừ trích mẫu giám định 0,019 gam).
-01 xilanh tiêm chưa qua sử dụng;
-01 ống novocain chưa qua sử dụng
Trả lại cho chị Vũ Thị Kim D (sinh năm 1980, trú tại Tổ 8, D, B, Hà Nội, là vợ của T) 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision mang BKS: 29K1-818.38 số máy: JF 86E2117570, số khung: RLHJF5835KY053134. Chị D không biết việc T sử dụng chiếc xe mô tô này để đi mua ma túy về sử dụng.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử lý vật chứng phù hợp với nhận định của HĐXX.
. Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo Đặng Đình T, qua trình điều tra không xác định được nhân thân nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện K không có căn cứ xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QuyÕt ®Þnh:
Tuyên bố bị cáo Đặng Đình T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt: Đặng Đình T 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 29/5/2024.
2.Về hình phạt bổ sung : Không áp dụng
3.Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.
Cho tịch thu, tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo Đặng Đình T là vật nhà nước cấm lưu hành bao gồm:
-01 phong bì niêm phong bên ngoài có chữ ký xác nhận của Đặng Đình T, cán bộ công an phường D, Giám định viên. Trong phong bì niêm phong có 01 gói giấy màu xanh bên trong chứa chất bột màu trắng là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,135 gam.(Đã trừ trích mẫu giám định 0,019 gam).
-01 xilanh tiêm chưa qua sử dụng;
-01 ống novocain chưa qua sử dụng
Trả lại cho chị Vũ Thị Kim D (sinh năm 1980, trú tại Tổ 8, D, B, Hà Nội, là vợ của T) 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision mang BKS: 29K1-818.38 số máy: JF 86E2117570, số khung: RLHJF5835KY053134.
(Có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K theo biên bản giao nhận vật
chứng ngày 22 /8/2024)
4. Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngµy 30/12/2016 vÒ ¸n phÝ, lÖ phÝ Toµ ¸n.
Bị cáo Đặng Đình T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5 . Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.
Án xử công khai sơ thẩm.
Bị cáo Đặng Đình T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trực tiếp về những vấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án.
| Nơi nhận - TAND, VKSND tp. Hà Nội; - VKSND huyện K; - Công an huyện K; - Chi cục Thi hành án DS huyện K; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ - Lưu VP/TA | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Viết Tuấn |