vanban.org

Bản án 161/2024/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 26/04/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/04/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của ị cáo Bùi Cao S; giữ nguyên ản s

Xử phạt ị cáo Bùi Cao S 18 (Mười tám) năm tù về tội “Giết người” và 09 (C) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Cao S - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của ị cáo Bùi Cao S; giữ nguyên ản s
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 161/2024/HS-PT
Ngày: 26/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Tào

Các Thẩm phán:

Ông Phạm Việt Cường

Ông Trần Đức Kiên

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Trang - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao

tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên

tòa: Ông Đặng Thọ Định - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân

cấp cao tại Đà Nẵng và điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 153/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 3 năm 2024 đối v i ị cáo Bùi Cao S về tội “Giết người” và “Trộm cắp tài sản” do c kháng cáo của ị cáo Bùi Cao S đối v i Bản án hình sự s thẩm số 10 2024 HS-ST ngày 22 01 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

Bị cáo: Bùi Cao S (tên gọi khác: S n N), sinh năm 1992 tại Liên Bang N;

gi i tính: Nam; n i cư trú: Căn hộ C Chung cư C, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12 12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Bùi Văn T (sinh năm 1960; chết năm 2021) và à Tạ Thị Thanh M, sinh năm 1969; vợ: chưa c (S chung sống v i à Ivanova K, à Trần Thị Thanh T1, à Phạm Thị Kim H, nhưng đều không c đăng ký kết hôn); c 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bị Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử 01 năm tù về tội “Cư p giật tài sản” theo Bản án số 124 2020 HSST ngày 08 6 2020. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 07 8 2020.

Bị cáo ị ắt tạm giam từ ngày 15 6 2022 đến nay; c mặt.

Người tham gia tố tụng khác:

- Người bào chữa cho bị cáo Bùi Cao S: Luật sư Lê Đình H1 – Văn phòng

luật sư Phan Tấn H2, thuộc Đoàn luật sư tỉnh K; c mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn c ị hại; người làm chứng nhưng không ị

kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Cao S được sinh ra và l n lên, làm việc tại Liên Bang N. Đến tháng

6/2017, S về Việt Nam sinh sống tại căn hộ C Chung cư C khu đô thị V, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Trong thời gian sống tại thành phố N, S quen iết v i Hồ Bảo Q và Teplykh Aleksandr V (Sha Sha, quốc tịch Nga) là võ sỹ Muay Thái. Cả a đều nghiện và thường sử dụng ma túy tại căn hộ C Chung cư C khu đô thị V, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

Khoảng đầu tháng 6 2018, B nhiều lần nhắn tin cho à Tạ Thị Thanh M (là

mẹ ruột của S) đang sinh sống ở Nga và n i à M chuyển tiền cho B để đưa cho S chi tiêu hằng ngày. Ngày 18 6 2018, à M nhờ người quen là à Vũ Thị Thanh T2 chuyển vào tài khoản số 103011194960001 Ngân hàng thư ng mại cổ phần S1 của B số tiền 2.000.000 đồng thì B cất giữ không đưa cho S. Đến ngày 20 6 2018, nghi ngờ B không đưa tiền cho S nên à M gọi điện thoại hỏi S thì S iết việc B đã nhận tiền của à M nhưng không đưa lại cho S và nảy sinh mâu thuẫn.

Chiều tối ngày 21 6 2018, tại căn hộ C Chung cư C c S, Teplykh

Aleksandr V, Ivanova K (người chung sống như vợ chồng v i S) và cháu D (sinh năm 2017). Khi B đến ch i thì S và Teplykh A Vladimirovid tra hỏi B về số tiền đã lấy của à M. Do B không thừa nhận nên S gọi điện thoại cho à M qua ứng dụng Messenger để à M xác nhận c sự việc trên nhưng B tiếp tục chối và không trả 2.000.000 đồng nên S và Teplykh A ắt B ở lại căn hộ 354, khi nào trả tiền thì m i cho về. Trong lúc B ở lại căn hộ thì S và Teplykh Aleksandr V đã dùng tay đánh nhiều cái vào vùng đầu, mặt, lưng, vai, ụng của B làm B tử vong. Sau khi phát hiện B tử vong, S n i v i T3 Aleksandr Vladimirovid ỏ xác B vào vali của Ivanova K, lấy quần áo, rèm cửa sổ, ăng keo, màng nhựa ọc thực phẩm c sẵn tại căn hộ ọc kín vali. Sau đ , Teplykh Aleksandr V lấy xe máy hiệu Wave màu xanh mượn của ông Trần Anh H3 chở vali chứa xác B đến giấu tại khu vực B, phường V, thành phố N. Sáng ngày 22/6/2018, S, Ivanova K và cháu D đến thuê phòng 101 khách sạn 07 G T, phường L, thành phố N ở đến ngày 01 7 2018 thì Ivanova K và con nhỏ xuất cảnh về Nga.

Ngày 27 3 2020 (gần 02 năm sau), ông Trần Tuấn V1 trong lúc đi làm rẫy

tại khu vực tổ A B, phường V, N phát hiện 01 vali màu đen ên trong chứa một xác chết. Sau khi nhận được tin áo, C quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K tiến hành thành lập hội đồng khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, đồng thời c văn ản truy tìm tung tích nạn nhân. Quá trình xác minh à Ngô Thị H4 trình áo c con là Hồ Quốc B1 mất tích đã lâu. Ngày 17 5 2022, C quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K ra Quyết định trưng cầu giám định ADN giữa à Ngô Thị H4 v i xác chết trong vali. Ngày 24 5 2022, V2 c Kết luận giám định ADN số HT213.22 PY-XNSH kết luận à Ngô Thị H4 và nạn nhân nam gi i chưa rõ danh tính c mẫu ADN ty thể mã số HT61.20-1 c quan hệ huyết thống theo dòng mẹ.

Sau khi đánh chết B1, thì S và Teplykh A Vladimirovid không về căn hộ

354 ở mà sống lang thang, thuê trọ nhiều n i, trộm cắp, cư p giật tài sản của người khác để lấy tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng.

Khoảng 16 giờ ngày 12 7 2019, S cùng Teplykh A Vladimirovid đến Trung

tâm thư ng mại A1 số D T, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Khi đến cửa hàng Đ tại tầng 2 thấy các mặt hàng điện tử trưng ày lộ thiên, không c tủ, máy quét và người ảo vệ nên S và Teplykh A Vladimirovid lấy trộm 2 đế sạc không dây 10W, 02 vòng đeo tay Xiaomi Mi and 3 và 01 máy cạo râu Xiaomi Smate cất trong a lô rồi ỏ đi đến tiệm tạp h a trên đường N (không xác định được địa điểm) án 02 đế sạc điện thoại được 200.000 đồng để tiêu xài cá nhân. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, S và Teplykh A Vladimirovid tiếp tục quay lại cửa hàng Đ thì ị nhân viên cửa hàng và ảo vệ phát hiện, ắt giữ và giao cho Công an phường L. Kiểm tra trong a lô của T4 thu giữ 02 vòng đeo tay Xiaomi Mi and 3 và 01 máy cạo râu Xiaomi Smate. Đến ngày 19 9 2019, Teplykh Aleksandr V xuất cảnh về Nga.

Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 142 TT-TTPY ngày 05 4 2020

của Trung tâm Pháp y tỉnh K nguyên nhân tử vong của nạn nhân chưa rõ tung tích:

- Chấn thư ng sọ não: Xư ng đỉnh trán tụ máu, mô não c màu xám lẫn

hồng.

- Chấn thư ng hàm mặt: Nứt xư ng hàm trên, xư ng hàm dư i trái tụ máu.

- C lưng c hình ảnh tụ máu.

- C vùng vai phải c hình ảnh tụ máu.

- Chấn thư ng ụng: Ổ ụng c nhiều máu.

- Toàn thân thối rửa, lộ xư ng, còn dính ít tổ chức da và c vùng mông,

những phần còn lại đã tiêu hủy.

Kết luận: Nguyên nhân tử vong đa chấn thư ng.

Tại Công văn số 378 TTPY-KGĐ ngày 26 10 2022 của Trung tâm Pháp y

tỉnh K xác định thời gian tử vong của Hồ Quốc B1 là 18-24 tháng (kể từ ngày giải phẫu tử thi).

Theo Bản kết luận định giá tài sản số 407 HĐĐG ngày 18 7 2019 của Hội

đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố N và Bản kết luận định giá tài sản số 3044 KL-HĐĐGTS ngày 05 8 2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Khánh Hòa thì tại thời điểm tháng 7 2019: 02 vòng đeo tay Xiaomi Mi and 3, 01 máy cạo râu Xiaomi Smate và 02 đế sạc không dây 10W c tổng giá trị là 2.975.000 đồng.

- Về vật chứng vụ án: C quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K thu giữ

màng ọc ni lông và ăng keo, 01 rèm vải che cửa, 01 áo thun màu đen, 01 áo vải ca rô ngắn tay trắng đen, 01 quần thun dài màu đen sọc trắng, 01 quần l t màu đỏ; 02 vòng đeo tay Xiaomi Mi and 3, 01 máy cạo râu Xiaomi Smate (đã trả cho Công ty TNHH X ngày 07/9/2022).

- Về phần trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, người đại diện hợp pháp

của ị hại là ông Hồ Đức H5 và à Ngô Thị H4 yêu cầu ị cáo S ồi thường số tiền 762.000.000 đồng. Bị cáo S chưa ồi thường. Công ty TNHH X không yêu cầu ị cáo S ồi thường.

Tại n án h nh s sơ thẩm s

- T ngà

c a Tòa án nhân dân t nh hánh òa đ u t đ nh:

Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1,

khoản 2 Điều 51; Điều 55 của Bộ luật hình sự đối v i ị cáo Bùi Cao S;

Căn cứ Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 591 của Bộ luật dân sự;

Căn cứ Điều 30, Điều 106, Điều 136, Điều 292, Điều 293, Điều 295, Điều

331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Điều 12, Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số

326 2016 UBTVQH14 ngày 30 12 2016 của Ủy an Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Xử phạt ị cáo Bùi Cao S 18 (Mười tám) năm tù về tội “Giết người” và 09

(C) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; uộc ị cáo chấp hành hình phạt chung của hai tội là 18 (Mười tám) năm 09 (Chín) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày ị ắt tạm giam là ngày 15 6 2022.

Ngoài ra, Bản án s thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật

chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 26 01 2024, ị cáo Bùi Cao S kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề

nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ị cáo Bùi Cao S; giữ nguyên ản án s thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ c trong hồ s vụ án đã được thẩm tra tại

phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận; Hội đồng xét xử thấy đủ c sở kết luận:

Giữa ị cáo S và anh Hồ Quốc B1 c mối quan hệ ạn è, không c mâu

thuẫn gì v i nhau; chỉ vì cho rằng anh B1 nhận 2.000.000 đồng từ mẹ của ị cáo là à Tạ Thị Thanh M nhưng không đưa lại số tiền này cho ị cáo, nên vào tối ngày 21 6 2018, tại căn hộ C Chung cư C, khu đô thị V, xã V, thành phố N, ị cáo S và Teplykh Aleksandr V dùng tay chân đánh nhiều cái vào người anh B1; hậu quả làm anh B1 tử vong do ị đa chấn thư ng.

Ngoài ra, vào khoảng 16 giờ ngày 12 7 2019, tại Trung tâm thư ng mại

A1, D T, phường L, thành phố N, S và Teplykh A đã lấy trộm 02 vòng đeo tay Xiaomi Mi and 3, 01 máy cạo râu Xiaomi Smate, 02 đế sạc không dây 10W c tổng giá trị là 2.975.000 đồng.

V i hành vi, hậu quả nêu trên, án s thẩm tuyên ố ị cáo Bùi Cao S phạm

tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 và tội “Trộm cắp tài sản” khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là c căn cứ, đúng pháp luật.

. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của ị cáo; nhận thấy:

Bị cáo phạm tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123

Bộ luật hình sự, c khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình và tội “Trộm cắp tài sản” khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự, c khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Án s thẩm đã xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra. Đồng thời cũng như xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, như: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử ị cáo đã thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải; sau khi phát hiện về hành vi “Giết người” ị cáo đã ra đầu thú, nên đã xử phạt ị cáo 18 năm tù về tội “Giết người” và 09 tháng tù về tội“Trộm cắp tài sản” là phù hợp, không nặng. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không c tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào m i, nên Hội đồng xét xử xét thấy không c căn cứ chấp nhận kháng cáo của ị cáo; giữ nguyên ản án s thẩm.

. Các phần khác của ản án s thẩm không c kháng cáo, kháng nghị đã

c hiệu lực pháp luật.

. Do kháng cáo không được chấp nhận nên ị cáo phải chịu án phí hình

sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận kháng cáo của ị cáo Bùi Cao S; giữ nguyên ản s

thẩm.

Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1,

khoản 2 Điều 51; Điều 55 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt ị cáo Bùi Cao S 18 (Mười tám) năm tù về tội “Giết người” và 09

(C) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ Điều 55 Bộ luật hình sự: Buộc ị cáo Bùi Cao S chấp hành hình

phạt chung của hai tội là 18 (Mười tám) năm 09 (Chín) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày ị ắt tạm giam là ngày 15 6 2022.

2. Các quyết định khác của ản án s thẩm không c kháng cáo, kháng

nghị đã c hiệu lực pháp luật và được thi hành theo Bản án hình sự s thẩm số 10/2024/HS-ST ngày 22 01 2024 của Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

3. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Bùi Cao S phải chịu 200.000 đồng án

phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm c hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ