- Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị H phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T H TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 161/2023/HS-ST Ngày: 29/ 3/ 2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T H, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hương - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trịnh Xuân Tính
2. Ông Nguyễn Văn Quý
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa:
Ông Trần Đình Tú - Thư ký TAND thành phố T H
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T H tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Thanh Huyền – Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 03 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T H, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 177/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 186/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
Lê Thị H, sinh ngày 14/9/1990; Nơi cư trú: Thôn 11, xã Q H, huyện Q X, tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hóa: 04/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố: Không xác định; Mẹ: Nguyễn Thị Xuân - sinh năm 1956; Chồng: không xác định; Có 03 con (Con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2020); Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 03/8/2022 UBND xã Q H huyện Q X ra Quyết định cai nghiện ma túy tại gia đình, cộng đồng thời gian từ 03/8/2022 đến 03/8/2023.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17h50’ ngày 02/12/2022, Đội Cảnh sát điều tra về tội phạm về ma túy Công an thành phố T H phối hợp với Công an các phường Q Đ; Q P, Q T, thành phố T H làm nhiệm vụ tại khu vực nhà nghỉ Hùng Anh 2, phố X N, phường Q Đ, thành phố T H phát hiện Lê Thị H có biểu hiện liên quan đến ma túy, nên yêu cầu kiểm tra. Khi bị kiểm tra, H tự giác giao nộp cho Tổ công tác 01 túi nilong màu trắng, bên trong có 06 viên nén hình tròn màu đỏ, H khai là ma túy, dạng hồng phiến, H cất giấu mục đích để sử dụng. Tổ công tác tiến hành lập biên bản quả tang thu giữ vật chứng.
Tại Cơ quan điều tra, Lê Thị H khai nhận: Bản thân là người nghiện ma túy nên chiều ngày 02/12/2022, H bắt taxi đi xung quanh khu vực phường Q Đ để mua ma túy, khi đi đến gần nhà nghỉ Hùng Anh 2, phố X N, phường Q Đ, H xuống xe đi bộ gặp và mua của một người đàn ông tên Q 06 viên hồng phiến giá 500.000đ về sử dụng. Sau khi mua được ma túy, H đi bộ đến khu vực nhà nghỉ Hùng Anh 2, phường Q Đ, thành phố T H thì bị Tổ công tác Công an thành phố T H phối hợp với Công an phường Q P, thành phố T H phát hiện bắt quả tang, thu giữ tang vật.
Kết luận số 4299/KL-KTHS ngày 08/12/2022 Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: 06 viên nén hình tròn màu đỏ của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,609g, loại Methamphetamine.
Về vật chứng:
- 01 phong bì ma túy niêm phong có dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, kèm theo chữ ký, chữ viết của Trần Thị Thúy H, Đào Đình H, Nguyễn Trọng Đ.
Toàn bộ vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T H theo biên bản giao nhận vật chứng số 118/2023/THA ngày 14/ 3/2023 giữa Công an với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T H.
Quá trình điều tra, xét xử Lê Thị H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra.
Tại bản cáo trạng số 124/CTr – VKS ngày 06/ 3/ 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố T H, đã truy tố Lê Thị H về tội “ Tàng Trữ trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND thành phố T H, tỉnh Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- Mức hình phạt đại diện VKS đề nghị: Từ 18 đến 24 tháng tù.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự , tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 và Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.
Bị cáo không tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện VKS.
Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên:
Quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi quyết định của người tiến hành tố tụng.
[ 2] Về hành vi phạm tội:
Hồi 17h50 ngày 02/12/2022, tại khu vực nhà nghỉ Hùng Anh 2, phố X N, phường Q Đ, thành phố T H. Tổ công tác Công an thành phố T H cùng với Công an Phường Q Đ, Q P, Q T, thành phố T H phát hiện bắt quả tang Lê Thị H đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, mục đích sử dụng. Kết luận giám định số ma túy thu của Lê Thị H có tổng khối lượng 0,609g ma túy loại Metahmphetamine.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo Lê Thị H có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Tội danh và khung hình phạt được quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Vì vậy VKSND thành phố T H, truy tố bị cáo Lê Thị H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định pháp luật.
Đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Hiện nay tệ nạn ma túy đang là hiểm họa cho toàn xã hội, là nguyên nhân làm suy thoái kinh tế, là một trong những nguyên nhân làm gia tăng các loại tội phạm khác. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, ảnh hưởng trật tự xã hội. Vì vậy tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nên cần phải xử lý nghiêm.
Đánh giá về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS của các bị cáo:
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Không
Về vật chứng:
Đối với 01 phong bì ma túy là vật cấm tàng trữ, lưu hành. Do đó cần áp dụng Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Khoản 1, Điểm a Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy đối với số ma túy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 và Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự..
Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Khoản 1, Điểm a Khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điểm a khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị H phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt:
Lê Thị H 18 ( Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án .
Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ma túy niêm phong có dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, kèm theo chữ ký, chữ viết của Trần Thị Thúy Hằ, Đào Đình H, Nguyễn Trọng Đ.
Toàn bộ vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T H theo biên bản giao nhận vật chứng số 118/2023/THA ngày 14/ 3/2023 giữa Công an với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T H.
Về án phí: Bị cáo Lê Thị H phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, theo quy định tại Điều 7a và Điểu 9 luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND TP. Thanh Hóa; - Cơ quan CSĐT Công an TP. Thanh Hóa; - Chi cục THADS TP. Thanh Hóa; - Trại tạm giam; - Bị cáo; - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu TAND TP. Thanh Hóa. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Thị Hương |