vanban.org

Bản án 161/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 12, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 06/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phan Nguyễn Trường A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Phan Nguyễn Trường A 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/02/2023. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 589 Bộ luật Dân sự; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Nguyễn Trường A - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Nguyễn Trường A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 174 Bộ luật Hình sự; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 161/2023/HS-ST
Ngày: 06 - 9 - 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Bá Hiệp.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Nguyễn Thị Mây.

2/ Bà Nguyễn Thị Thúy Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Phú Tuấn – Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Hạo – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 191/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 819/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Phan Nguyễn Trường A; giới tính: Nam; sinh năm: 2001; sinh tại: Tỉnh Quảng Bình; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: xã Gia Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình; quốc tịch:Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Không; cha không rõ họ tên, mẹ Phan Thị V.

Tiền án: Tại bản án số 102/2021/HS-ST ngày 03/12/2021, Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình xử phạt 01 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp với Bản án số 35/2021/HS-ST ngày 17/5/2021 do Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xử 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng cộng hình phạt là 19 tháng tù. A chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/8/2022.

Tiền sự: Không.

Bị bắt, tạm giam từ ngày 01/02/2023 đến nay. (có mặt)

- Bị hại: Chị Hà Thu H, sinh năm 2004; địa chỉ: phường Tân Chánh Hiệp, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

- Nguyên đơn dân sự:

1/ Ông Dương Tấn V1 - Đại diện theo pháp luật Hộ kinh doanh T; địa chỉ: phường Sơn Kỳ, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Văn H1, sinh năm 1984; địa chỉ: phường Tây Thạnh, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

2/ Ông Nguyễn Chí Th, sinh năm 1982; địa chỉ: phường Bình Hưng Hòa, quận Bình Tân, Thành phố Hồ CHí Minh. (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa liên quan: Bà Hà Diễm Th1, sinh năm 1982; địa chỉ: thị trấn Kbang, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thông qua mạng xã hội Facebook, chị Hà Thu H, sinh năm 2004 và Phan Nguyễn Trường A, sinh năm 2001, quen biết nhau từ ngày 16/10/2022. Ngày 18/10/2022 chị Hà Thu H và Phan Nguyễn Trường A hẹn gặp tại Công viên 30/4, thuộc thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai để đi xin việc làm cho A. Khi chị H điều khiển xe mô tô, hiệu honda Vision, màu đỏ nâu đen, biển số: 81H1-185.97 đến Công viên 30/4 gặp A và giao xe cho A chở đến khu vực quận Bình Tân và Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh để xin việc nhưng không được, nên A đến thuê phòng ở trọ tại nhà không số, tổ 10, khu phố 7, phường Tân Chánh Hiệp, Quận 12, thời gian trọ từ ngày 19/10/2022 đến ngày 21/10/2022, chị H tiếp tục đến phòng trọ đón A đi xin việc làm nhiều nơi nhưng không xin được. Ngày 22/10/2022, A chở chị H đến chỗ làm của chị H tại siêu thị Lotte Mart, địa chỉ 242 đường Nguyễn Văn Lượng, Phường 10, quận Gò Vấp, rồi mượn xe mô tô của chị H đi chơi. Đến khoảng 22 giờ 30 cùng ngày, chị H hết giờ làm thì A đến đón chị H chở về phòng trọ của chị H, rồi chị H giao xe cho A giữ làm phương tiền đi lại và đưa đón chị H đi làm hàng ngày.

Khoảng 16 giờ 30 ngày 23/10/2022, sau khi A chở chị H đến nơi làm việc tại địa chỉ 242 đường Nguyễn Văn Lượng, Phường 10, quận Gò Vấp thì chị H tiếp tục đồng ý giao xe cho A sử dụng như thường ngày. Sau đó, A nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô của chị H nên nhắn tin nói với chị H là mượn xe đi thăm người cậu bị bệnh đang nằm bệnh viện điều trị tại tỉnh Đồng Nai. Đến sáng ngày 24/10/2022 thì A đem xe mô tô biển số 81H1-185.97 của chị H đến dịch vụ cầm đồ T, địa chỉ: phường Sơn Kỳ, quận Tân Phú cầm được số tiền 7.000.000 đồng. Lúc này, nhân viên dịch vụ cầm đồ nói với A nếu muốn cầm cố với số tiền nhiều hơn thì phải có giấy tờ tùy thân của chủ xe, nên A nhắn tin qua ứng dụng Zalo nói dối với chị H lấy lý do là xe bị Cảnh sát giao thông giữ và kêu chị H chụp gửi giấy CCCD cho A. Nhưng chị H chỉ gửi hình ảnh sổ hộ khẩu cho A, nên A lấy thông tin này cầm cố thêm được số tiền 4.000.000 đồng, tổng cộng cầm xe được 11.000.000 đồng.

Sau đó, đến ngày 25/10/2022, A đăng tin bán xe mô tô biển số 81H1-185.97 trên mạng xã hội Facebook thì anh Nguyễn Chí Th liên hệ mua xe với số tiền 16.500.000 đồng. Sau đó, A cùng Th đến dịch vụ cầm đồ T ghi lại tên người cầm cố xe của chị H là anh Th sau khi trừ tiền cầm cố xe mà A đã nhận trước đó, Th đưa cho A số tiền 5.500.00 đồng. Tiền cầm cố xe và tiền bán xe của chị H, A đã tiêu xài cá nhân.

Sau khi bán xe của chị H thì A chặn tài khoản Facebook của chị H, trả phòng trọ rồi bỏ trốn. Đến khoảng 12 giờ 30 phút ngày 30/10/2022, chị H phát hiện A tại siêu thị Co.opmart, địa chỉ số 01 đường Phú Lợi, phường Phú Hòa, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương nên trình báo Công an phường Phú Hòa, thành phố Thủ Dầu Một giữ A lại, rồi trình báo Công an phường Tân Chánh Hiệp, Quận 12 lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 12 xác minh làm rõ.

Tại Kết luận định giá tài sản số 324/KL-HĐĐGTS ngày 21/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, xe mô tô nhãn hiệu honda Vision, màu đỏ nâu đen, biển số: 81H1-185.97, số máy JF86E0073592, số khung RLHJF5827JY027771 có giá trị là 22.500.000 đồng.

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu honda Vision, màu đỏ nâu đen, biển số: 81H1-185.97 đã trả lại cho chủ sở hữu (chị Hà Thu H).

Về dân sự: Chị Hà Thu H là người bị hại đã nhận lại xe nên không yêu cầu bồi thường. Đại diện cửa hàng cầm đồ T yêu cầu A bồi thường số tiền 11.000.000 đồng, anh Nguyễn Chí Th yêu cầu A bồi thường 5.500.000 đồng.

Tại Cáo trạng số: 100/CT-VKS-Q12 ngày 05/5/2023, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Phan Nguyễn Trường A về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.

Đối với Nguyễn chí Th và người cầm xe do không biết tài sản do Phan Nguyễn Trường A phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an 12 không xử lý.

Tại phiên tòa,

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội nêu trên. Bị cáo thừa nhận ngày 23/10/2022, sau khi chở chị H đi làm, chị H giao xe cho bị cáo quản lý, bị cáo có nhiệm vụ đón chị H đi làm về vào lúc khoảng 22 giờ 00 cùng ngày. Sau khi nhận xe của H thì bị cáo mới nảy sinh ý định chiếm đoạt xe. Đến khoảng 20 giờ 00 cùng ngày, bị cáo nhắn tin cho chị H nói dối là đi thăm người cậu ở Đồng Nai nhằm mục đích kéo dài thời gian để thực hiện hành vi chiếm đoạt xe, và nói H hết giờ làm thì đón Garp về nhà trọ. Đến sáng ngày 24/10/2022 thì bị cáo đem chiếc xe của chị H đi cầm.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị tuyên bố bị cáo phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù theo điểm a khoản 1 Điều 175, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường theo quy định pháp luật.

Về vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý nên không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét thấy, ông Dương Tấn V1 – đại diện Hộ kinh doanh Tvà ông Nguyễn Chí Th là những người bị thiệt hại do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Tòa án đưa vào tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn dân sự.

Xét thấy, Phan Nguyễn Trường A, ở trọ tại địa chỉ Tổ 10, Khu phố 7, phường Tân Chánh Hiệp, Quận 12 và chị Hà Thu H, ở địa chỉ: Khu phố 1, phường Tân Chánh Hiệp, Quận 12 - có quen biết nhau. Chị H đưa xe cho A quản lý và A đưa đón chị H đi làm. Ngày 23/10/2022, sau khi A chở chị H đi làm thì A được chị H giao xe biển số 81H1-185.97 quản lý. Sau đó A nảy sinh ý định chiếm đoạt xe của chị H, A đã nhắn tin với chị H là mượn xe đi thăm người cậu đang nằm bệnh viện điều trị tại tỉnh Đồng Nai nhằm mục đích kéo dài thời gian quản lý xe để thực hiện hành vi chiếm đoạt. Sau đó đến sáng ngày 24/10/2022 A đã đem chiếc xe của chị H đi cầm cho tiệm cầm đồ T, sau đó bán cho anh Nguyễn Chí Th. Chiếc xe chiếm đoạt trị giá 22.500.000 đồng.

Như vậy, sau khi Phan Nguyễn Trường A nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô biển số 81H1-185.97, A đã dùng thủ đoạn gian dối nhắn tin với chị H là mượn xe đi thăm người cậu đang nằm bệnh viện đều trị tại tỉnh Đồng Nai nhằm mục đích kéo dài thời gian để thực hiện hành vi chiếm đoạt xe. Mặc dù A được chị H giao xe mô tô trước khi nảy sinh hành vi chiếm đoạt tài sản, nhưng A đã dùng thủ đoạn gian dối để nhằm mục đích thực hiện được hành vi chiếm đoạt. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận hành vi của A đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 truy tố A tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự là chưa phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo A.

Tòa án đã trả hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 về việc xem xét truy tố hành vi của bị cáo A về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nhưng Viện kiểm sát vẫn giữ quan điểm. Tòa án đã thông báo cho bị cáo A biết nếu Viện kiểm sát giữ tội danh đã truy tố thì Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn. Vì vậy, căn cứ Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xác định bị cáo A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tài sản chiếm đoạt trị giá 22.500.000 đồng nên tội phạm và hình phạt của bị cáo A được quy định đại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy, bị cáo đã từng bị kết án, chưa được xóa án tích nay bị cáo lại tiếp tục phạm tội, hành vi của bị cáo là tái phạm, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xét thấy, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Chủ tiệm cầm đồ T yêu cầu bồi thường 11.000.000 đồng, anh Nguyễn Chí Th yêu cầu bồi thường 5.500.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu. Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 589 Bộ luật Dân sự. Hội đồng xét xử buộc bị cáo Phan Nguyễn Trường A bồi thường cho ông Dương Tấn V1 – đại diện Hộ kinh doanh T số tiền 11.000.000 đồng, anh Nguyễn Chí Th số tiền 5.500.000 đồng. Bồi thường ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Về vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát đều tra Công an Quận 12 đã xử lý nên không đề cập giải quyết.

Về án phí: Theo Điều 23, Điều 26 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo bồi thường 16.500.000 đồng nên án phí dân sự sơ thẩm bị cáo phải nộp là 825.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Phan Nguyễn Trường A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 174, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xử phạt bị cáo Phan Nguyễn Trường A 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/02/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 589 Bộ luật Dân sự; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.

Buộc bị cáo Phan Nguyễn Trường A bồi thường cho:

Ông Dương Tấn V1 – Đại diện Hộ kinh doanh T số tiền 11.000.000 (mười một triệu) đồng.

Ông Nguyễn Chí Th số tiền 5.500.000 (năm triệu năm trăm nghìn) đồng.

Bồi thường toàn bộ số tiền ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày ông Dương Tấn V1, ông Nguyễn Chí Th có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, bị cáo Phan Nguyễn Trường A còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 23, Điều 26 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm, nộp 825.000 (tám trăm hai mươi lăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ