vanban.org

Bản án 161/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 25/09/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/09/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đoàn Thị Kim L, sửa bản án sơ thẩm.

Tuyên bố bị cáo Đoàn Thị Kim L phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Đoàn Thị Kim L 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Doan Thi Kim L "Trom cap tai san" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đoàn Thị Kim L, sửa bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 161/2023/HS-PT
Ngày: 25 - 9 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Duy Hoài

- Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Hữu Hồng

Ông Đỗ Mạnh Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hương Trang – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Đào - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 176/2023/TLPT-HS ngày 18 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo Đoàn Thị Kim L; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 70/2023/HS-ST ngày 22/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

Bị cáo có kháng cáo: Đoàn Thị Kim L, sinh năm: 1983 tại Lâm Đồng; nơi ĐKNKTT và cư trú: Số I N, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn N và bà Nguyễn Thị N1 (đã chết); chồng: Nguyễn K; con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

Trong vụ án còn có bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đoàn Thị Kim L là người giúp việc dọn dẹp vệ sinh cho gia đình anh Tô Minh Q. Trong thời gian từ tháng 4/2022 đến tháng 7/2022, L lợi dụng quá trình lau dọn đã thực hiện 12 lần trộm cắp tài sản của gia đình anh Tô Minh Q, cụ thể như sau:

- Lần thứ nhất: Vào ngày thứ tư cuối tháng 04/2022, L dọn dẹp vệ sinh trong phòng ngủ của anh Q thì thấy trong tủ quần áo có giỏ xách đựng 01 chùm chìa khóa. Lúc này L lấy chìa khóa mở tủ gỗ trong phòng thì thấy có nhiều cọc tiền được cột bằng dây thun nên L lấy cọc tiền mệnh giá 500.000đ rút trộm 1.000.000đ cất vào túi, rồi cất cọc tiền, khóa tủ và bỏ lại chìa khóa vào giỏ xách. Sau đó L mang tiền về nhà cất và tiếp tục sử dụng thủ đoạn nêu trên để nhiều lần trộm cắp tiền của anh Q.

- Lần thứ hai: Vào một ngày cuối tuần đầu tháng 5/2022, L đã lấy trộm của anh Quân số tiền 1.500.000đ.

- Lần thứ ba: Vào một ngày đầu tuần thứ hai của tháng 5/2022, L đã lấy trộm của anh Quân số tiền 500.000đ.

- Lần thứ tư: Vào một ngày trong tháng 5/2022 sau lần thứ ba khoảng 02 ngày, L đã lấy trộm của anh Quân số tiền 2.500.000đ.

- Lần thứ năm: Vào một ngày tuần thứ 3 của tháng 5/2022, L đã lấy trộm của anh Quân số tiền 3.000.000đ.

- Lần thứ sáu: Vào một ngày đầu tháng 6/2022, L đã lấy trộm của anh Quân số tiền 4.000.000đ.

- Lần thứ bảy: Vào một ngày trong tháng 6/2022 sau lần thứ sáu khoảng 02 ngày, L đã lấy trộm của anh Quân số tiền 5.000.000đ.

- Lần thứ tám: Vào một tuần thứ 3 của tháng 6/2022, L đã lấy trộm của anh Quân số tiền 5.000.000đ.

- Lần thứ chín: Vào một tuần thứ 4 của tháng 6/2022, L đã lấy trộm của anh Quân số tiền 2.000.000đ.

- Lần thứ mười: Vào một trong tháng 6/2022 cách lần thứ chín khoảng 02 ngày, L đã lấy trộm của anh Quân số tiền 1.000.000đ.

- Lần thứ mười một: Vào một ngày trong tháng 6/2022 cách lần thứ mười khoảng 04 ngày, L đã lấy trộm của anh Quân số tiền 1.500.000đ.

- Lần thứ mười hai: Vào ngày 09/7/2022, L đến nhà anh Q dọn dẹp vệ sinh và tiếp tục mở tủ lấy trộm số tiền 5.500.000đ. Lúc này L khóa tủ thì thấy bên trong tủ mới lắp đặt camera nên L dùng tay tháo dây cắm điện của camera, cất tiền vào vị trí cũ rồi khóa tủ lại. Sau đó anh Q kiểm tra camera phát hiện ra sự việc nên L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Theo Kết luận giám định 940/KL-KTHS ngày 16/11/2022 của Phòng K1

- Công an tỉnh L xác định: không phát hiện dấu vết cắt ghép chỉnh sửa trong video giám định, nội dung tương tự vụ thứ mười hai đã nêu ở trên.

Như vậy trong khoảng thời gian từ cuối tháng 04/2022 đến ngày 09/7/2022, Đoàn Thị Kim L đã 12 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trị giá 32.500.000đ của anh Tô Minh Q.

Ngoài ra Đoàn Thị Kim L còn là người giúp việc dọn dẹp vệ sinh cho gia đình anh Nguyễn Xuân T, chị Bùi Thị Ái V. Trong thời gian từ tháng 5/2022 đến tháng 7/2022, L lợi dụng quá trình lau dọn đã thực hiện 12 lần trộm cắp tài sản của gia đình chị V, cụ thể như sau:

- Lần thứ nhất: Vào ngày đầu tuần thứ 3 của tháng 5/2022, L dọn dẹp vệ sinh trong phòng ngủ của chị V thì thấy trong ngăn tủ nhựa có 01 miếng vàng SJC 999.9 Fine Gold trọng lượng 05 chỉ nên L lấy trộm miếng vàng bỏ vào túi cất giấu mang về nhà. Sau đó L đến tiệm V1 ở địa chỉ số G T, phường L, thành phố B bán miếng vàng SJC trộm cắp được với giá 16.000.000đ (tương đương 03 chỉ vàng) kèm theo 01 miếng vàng SJC trọng lượng 02 chỉ (quy đổi từ miếng vàng 05 chỉ). Đến tháng 7/2022, L đến tiệm V1 mua 01 nhẫn vàng gắn mặt đá và 01 lắc tay vàng có đính đá từ số tiền bán vàng nêu trên.

- Lần thứ hai: Vào một ngày trong tháng 5/2022 cách lần thứ nhất khoảng 02 ngày, L dọn dẹp phòng ngủ của chị V thì thấy trong giỏ xách màu nâu để trên kệ gỗ có một số tờ tiền Đôla Mỹ nên lấy trộm 01 tờ tiền mệnh giá 100 USD cất giấu vào túi quần mang về nhà. Đến tháng 06/2022, L mang tờ tiền 100 USD trộm cắp được đến tiệm V1 bán được 2.360.000đ.

- Lần thứ ba: Vào một ngày tuần đầu tháng 6/2022, L dọn dẹp phòng ngủ của chị V thì thấy trong ngăn tủ quần áo có các cọc tiền mệnh giá 50.000đ, 100.000đ và 200.000đ được cột dây thun. L lấy trộm 1.500.000đ mang về nhà cất giấu và tiếp tục sử dụng thủ đoạn nêu trên để nhiều lần trộm cắp tiền của anh T

- Lần thứ tư: Vào một ngày tháng 6/2022 cách lần thứ ba khoảng 02 ngày, L đã trộm cắp của gia đình chị V số tiền 1.000.000đ.

- Lần thứ năm: Vào một ngày tuần thứ 2 của tháng 6/2022, L đã trộm cắp của gia đình chị V số tiền 2.500.000đ.

- Lần thứ sáu: Vào một ngày tuần thứ 3 của tháng 6/2022, L đã trộm cắp của gia đình chị V số tiền 3.000.000đ.

- Lần thứ bảy: Vào một ngày tháng 6/2022 cách lần thứ sáu khoảng 02 ngày, L đã trộm cắp của gia đình chị V số tiền 1.500.000đ.

- Lần thứ tám: Vào một ngày tuần thứ 4 của tháng 6/2022, L đã trộm cắp của gia đình chị V số tiền 4.000.000đ.

- Lần thứ chín: Vào một ngày cuối tháng 6/2022, L đã trộm cắp của gia đình chị V số tiền 3.000.000đ.

- Lần thứ mười: Vào một ngày cuối tháng 6/2022, L đã trộm cắp của gia đình chị V số tiền 5.000.000đ.

- Lần thứ mười một: Vào một ngày đầu tháng 7/2022, L đã trộm cắp của gia đình chị V số tiền 2.000.000đ.

- Lần thứ mười hai: Vào ngày 07/7/2022, L đã trộm cắp của gia đình chị V số tiền 1.500.000đ, sau đó mang tiền về nhà cất giấu

Quá trình điều tra, ông Dương Tấn T1 là chủ tiệm V1 không xác định được có mua 01 miếng vàng 05 chỉ và 01 tờ tiền Đôla mệnh giá 100 USD từ Đoàn Thị Kim L hay không nên không thu hồi được.

Theo Công văn số 22/HĐĐG ngày 01/08/2022 của Hội đồng định giá tài sản thành phố B xác định: 01 miếng vàng 05 chỉ và 01 tờ tiền Đôla mệnh giá 100 USD không có căn cứ định giá do tài sản không thu hồi được và không xác định được thời điểm tài sản bị xâm hại.

Ngày 03/02/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã có văn bản đề nghị Ngân hàng N2 chi nhánh tỉnh L và Sở tài chính tỉnh L cung cấp giá vàng, đô la Mỹ vào thời điểm tháng 05/2022 và được hướng dẫn tra cứu tỷ giá trung tâm của Đ với Đô la Mỹ tại trang thông tin điện tử của Ngân hàng N2 và liên hệ với các doanh nghiệp kinh doanh vàng để xác định giá vàng.

Căn cứ vào tỷ giá trung tâm của Đ với Đô la Mỹ tại trang thông tin điện tử “www.sbv.gov.vn” của Ngân hàng N2 xác định: 100 Đô la Mỹ trong khoảng thời gian tháng 05/2022 có giá trị giao động từ 2.305.700 đến 2.316.300 Việt Nam đồng. Do đó căn cứ vào nguyên tắc có lợi cho bị cáo, xác định giá trị của 100 USD mà Đoàn Thị Kim L chiếm đoạt của gia đình chị Bùi Thị Ái V vào tháng 5/2022 là 2.305.700đ.

Căn cứ vào bảng giá bán vàng của Công ty cổ phần V2 - Chi nhánh PNJ thành phố B xác định: 01 miếng vàng SJC 999.9 Fine Gold trọng lượng 05 chỉ trong khoảng thời gian tháng 05/2022 có giá trị bán ra giao động từ 34.500.000 đến 35.200.000đ. Do đó căn cứ vào nguyên tắc có lợi cho bị cáo, xác định giá trị của 01 miếng vàng SJC 999.9 Fine Gold trọng lượng 05 chỉ mà Đoàn Thị Kim L chiếm đoạt của gia đình chị Bùi Thị Ái V vào tháng 5/2022 là 34.500.000đ.

Như vậy trong khoảng thời gian từ cuối tháng 05/2022 đến ngày 07/7/2022, Đoàn Thị Kim L đã 12 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trị giá 61.805.700đ của gia đình chị Bùi Thị Ái V.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ từ Đoàn Thị Kim L được 52.000.000đ là số tiền mà bị can trộm cắp được, số tiền còn lại L đã tiêu xài cá nhân hết nên không thu giữ được. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại số tiền 27.000.000đ cho gia đình anh Tô Minh Q và trả lại số tiền 25.000.000đ cho gia đình chị Bùi Thị Ái V.

Ngoài ra Cơ quan điều tra còn tạm giữ 01 miếng kim loại màu vàng kích thước (2,7x1,8)cm khắc chữ SJC Rồng Vàng 999.9 Fine Gold công ty vàng bạc đá quý, 7,5gam, trọng lượng 02 chỉ được bọc trong lớp nhựa trong kích thước (4,1x3,1)cm; 01 nhẫn kim loại màu vàng đường kính 1,7cm có mặt gắn đá màu vàng; 01 lắc kim loại màu vàng dài 16,8cm, phần rộng nhất là 1,1cm, có đính đá là tài sản do Đoàn Thị Kim L mua từ tiền trộm cắp được và 01 USB chứa dữ liệu điện tử thu giữ từ gia đình anh Tô Minh Q.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, Đoàn Thị Kim L đã bồi thường cho chị Bùi Thị Ái V 01 miếng vàng SJC rồng vàng 999.9 trọng lượng 05 chỉ, 01 tờ tiền mệnh giá 100 USD và số tiền 25.000.000đ là giá trị tài sản không thu hồi được. Hiện nay chị V và anh Q không có yêu cầu gì khác về bồi thường dân sự.

Cáo trạng số: 77/CT-VKSBL ngày 23/5/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng truy tố Đoàn Thị Kim L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại bản án số 70/2023/HS-ST ngày 22/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng đã xử;

Tuyên bố bị cáo Đoàn Thị Kim L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đoàn Thị Kim L 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của bị cáo.

Ngày 30/6/2023 bị cáo Đoàn Thị Kim L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, giữ nguyên kháng cáo và xuất trình thêm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo của các bị hại.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm cho bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong thời gian từ cuối tháng 04/2022 đến ngày 09/07/2022 Đoàn Thị Kim L là người giúp việc dọn dẹp vệ sinh bán thời gian đã lợi dụng công việc để liên tục trộm cắp tài sản của chủ nhà, cụ thể: Bị cáo L đã 12 lần trộm cắp tiền của vợ chồng anh Tô Minh Q, chị Bùi Thị Thùy P trị giá 32.500.000đ và 12 lần trộm cắp tiền Việt Nam đồng, tiền đô la Mỹ và vàng của vợ chồng chị Bùi Thị Ái V, anh Nguyễn Xuân T có trị giá 61.805.700đ. Tổng giá trị tài sản mà Đoàn Thị Kim L đã chiếm đoạt là 94.305.700đ.

Với hành vi trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Đoàn Thị Kim L về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

Đơn kháng cáo của bị cáo Đoàn Thị Kim L nộp trong hạn luật định nên được xem xét. Nội dung kháng cáo của bị cáo là xin giảm nhẹ hình phạt.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, đã bồi thường toàn bộ thiệt hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội 02 lần trở lên nên phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp đơn xác nhận gia đình có hoàn cảnh khó khăn, chồng bị cáo đã bỏ đi; bị cáo là lao động duy nhất và đang nuôi con nhỏ; bị cáo đã khắc phục toàn bộ thiệt hại và có đơn xin bãi nại của bị hại Bùi Thị Thùy P, Tô Minh Q. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, giảm một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đoàn Thị Kim L, sửa bản án sơ thẩm. Xử:

1. Tuyên bố bị cáo Đoàn Thị Kim L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đoàn Thị Kim L 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm e khoản 2 Điều 23; Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Đoàn Thị Kim L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ