vanban.org

Bản án 161/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 21/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Tuyên bố: Bị cáo Bùi Minh Hg phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Minh H - 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày vào trại chấp hành án. Về án phí: áp dụng điều 136 BLTTHS năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng án phí HSST. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Minh H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? * Tuyên bố: Bị cáo Bùi Minh Hg phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN LỘC
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 161/2021/HS - ST
Ngày: 21/12/2021.
NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

-----------------------

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tùng

- Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Hồ Văn Tài

+ Ông Nguyễn Xuân Tùng

- ư ký ê òa Ông Phạm Tuấn Hải, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

- Đạ d ệ V ệ k ể á â dâ uyệ Xuâ L

a

a ê òa Ông Nguyễn Duy Hùng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 21/12/2021, tại Trụ sở Tòa án Nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 128/2021/TLST - HS ngày 06/10/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 159/2021/QĐXXST – HS ngày 08/11/2021 và Thông báo dời lịch xét xử số: 390/2021/TB-TA ngày 19/11/2021, đối với bị cáo:

Bùi Minh H – sinh năm 1980 tại ĐN

HKTT: ấp 1, xã SN, huyện ĐQ, tỉnh ĐN. Nghề nghiệp: không; TĐHV: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam. Cha: Bùi Minh C (đã chết); mẹ: Bùi Thị T, sinh năm 1955; Vợ: Đoàn Thị Phương A, sinh năm 1981; Con: có 01 con sinh năm 2011. Tiền án: 01 tiền án. Ngày 30/8/2004 bị TAND Quận 1, Thành phố H xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án số 270/HSST, hiện vẫn chưa đóng án phí. Nhân thân:

+ Ngày 31/01/2002 bị TAND huyện CL, tỉnh ĐT xử phạt 18 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 02-HSST.

+ Ngày 16/01/2019 bị Công an phường PB, Thành phố L, tỉnh ĐN xử phạt hành chính về hành vi: “Trộm cắp tài sản”. Tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Ngöôøi bị hại: Hoàng Thị T - sinh năm 1989 (vắng mặt)

Trú tại: ấp 2A, xã XB, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Vũ Thị H1 - sinh năm 1986

Trú tại: tổ 12, khu phố 4B, phường T, thành phố B, tỉnh ĐN (vắng mặt).

- Người tham gia tố tụng khác:

* Người làm chứng:

1. Đinh Ngọc Lê Tuấn A - sinh năm 1984 (vắng mặt).

Trú tại: ấp 5, xã XB, huyện XL, tỉnh ĐN

2. Trần Thụy Hoàng D - sinh năm 1996 (vắng mặt).

Trú tại: ấp 1, xã SN, huyện ĐQ, tỉnh ĐN

3. Đoàn Ngọc V - sinh năm 1980 (vắng mặt).

Trú tại: ấp 1, xã SN, huyện ĐQ, tỉnh ĐN

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ ngày 17/5/2021, Bùi Minh H đi bộ từ nhà ra đường Tỉnh lộ 763 và đi nhờ xe moto hiệu Dream (không rõ biển số) của 01 thanh niên tên Bùm. Khi đến địa bàn xã Xuân Bắc, huyện Xuân Lộc thì H cùng Bùm đã ghé quán café võng (không tên) do chị Hoàng Thị T làm chủ để uống nước. H và Bùm vào võng nằm, gọi 02 ly nước mía, lúc này H để ý thấy trong nhà kho của chị T đang dựng 01 xe moto Honda Wave RSX màu đỏ đen, biển số 60F3 - 611.60 (do chị Vũ Thị H1 đứng tên), có sẵn chìa khóa trên xe nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Để thực hiện ý định, H nói Bùm đi về trước, còn H quan sát xung quanh, thấy không có ai và chị T đang làm việc trong nhà không để ý nên đã đi đến dắt xe ra ngoài, nổ máy tẩu thoát về hướng SN. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, H biết được việc trộm cắp tài sản của bản thân đã bị Công an huyện Xuân Lộc phát hiện nên đã điện thoại nhờ chị Trần Thụy Hoàng D đem xe mà H trộm cắp đến khu vực ngã tư Cây Sung thuộc xã Xuân Bắc trả lại cho chị T. Đến ngày 24/5/2021, H đến Công an huyện Xuân Lộc đầu thú.

* Tại bản Kết luận định giá tài sản số 29/KL-HĐĐG ngày 21/5/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện Xuân Lộc kết luận: 01 xe moto Honda Wave RSX màu đỏ đen, biển số 60F3 - 611.60 có giá trị 11.000.000 đồng.

* Vật chứng vụ án: 01 xe moto Honda Wave RSX màu đỏ đen, biển số 60F3 - 611.60 đã trả lại cho chị Hoàng Thị T.

* Về trách nhiệm dân sự: Chị T không có yêu cầu gì về dân sự.

* Tại bản Cáo trạng số 135/CT – VKSXL ngày 05/10/2021 VKSND huyện Xuân Lộc đã truy tố bị cáo Bùi Minh H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 BLHS. Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Xuân Lộc vẫn giữ Trang 2 nguyên quan điểm truy tố, đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Bùi Minh H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 BLHS với mức hình phạt 16 - 18 tháng tù.

* Người bị hại Hoàng Thị T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Vũ Thị H1, những người làm chứng: Đinh Ngọc Lê Tuấn A, Trần Thụy Hoàng D, Đoàn Ngọc V vắng mặt nên Tòa án tiến hành công bố lời khai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Minh H khai nhận: Ngày 17/5/2021 tại quán café không tên thuộc ấp 2A, xã Xuân Bắc, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai do chị Hoàng Thị T làm chủ, H đã có hành vi trộm cắp 01 xe moto Honda Wave RSX màu đỏ đen, biển số 60F3 - 611.60 có giá trị 11.000.000 đồng của chị T. Lời khai nhận của H phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tiến hành truy tố H là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Hành vi của bị cáo Bùi Minh H đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 BLHS.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhận thấy:

Bị cáo là thanh niên đã trưởng thành, có đủ sức khỏe, năng lực và khả năng lao động để kiếm thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình nhưng vì không có nghề nghiệp ổn định, muốn kiếm tiền nhanh mà không tốn công sức lao động nên bị cáo lại phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của chị T mà còn gây nguy hiểm cho xã hội, làm mất an ninh trật tự tại địa phương.

Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị TAND huyện CL, tỉnh ĐT xử phạt tù về tội: “Trộm cắp tài sản” và bị Công an phường P, Thành phố L, tỉnh ĐN xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” nên xét cần áp dụng hình phạt tù đối với Bùi Minh H mới đủ tính chất răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, tự nguyện giao trả tài sản cho bị hại; ra đầu thú; hiện tại bị bệnh HIV dẫn đến bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng.

Về tình tiết tăng nặng: có 01 tiền án nên thuộc trường hợp tái phạm.

Về tang vật vụ án: đã giải quyết xong nên không đặt ra xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: chị T không yêu cầu nên không xét.

Xét ý kiến của vị đại diện VKSND huyện Xuân Lộc về tội danh, tình tiết giảm nhẹ, khung điều luật áp dụng, nhân thân của bị cáo, loại hình phạt áp dụng và trách nhiệm dân sự phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.

Trong quá trình điều tra, truy tố hành vi – quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Xuân Lộc, Kiểm sát viên, Trang 3 Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc đều tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

* Tuyên bố: Bị cáo Bùi Minh Hg phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm h, s khoản 1 và khoản 2 điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; điều 38 BLHS.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Minh H - 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày vào trại chấp hành án.

- Về án phí: áp dụng điều 136 BLTTHS năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng án phí HSST.

Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng những người vắng mặt thời hạn 15 ngày được tính kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. N ậ

Cỡ chữ