vanban.org

Bản án 161/2018/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 07/11/2018 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 07/11/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

ông Nguyễn Văn L, bà ng Thị Bích T kháng cáo

bà Phạm Ngọc Phương L1; Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn L và bà ng Thị Bích T về việc “yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đòi tài s n” đ với bị đơn ông Nguyễn Thanh H và bà Phạm Ngọc… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản — án dân sự — "Yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho tài sản; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; đòi lại tài sản"
  • Tòa quyết gì? ông Nguyễn Văn L, bà ng Thị Bích T kháng cáo
  • Căn cứ chính? Điều 128 Bộ luật Dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 425 Bộ luật Dân sự
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 161/2018/DS-PT
Ngày: 07-11-2018
V/v: “Yêu cầu hủy hợp đồng tặng
cho tài sản; hủy Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất và tài sản gắn
liền với đất; đòi lại tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Lê Tự

Các Thẩm phán:

Ông

Ông

- Thư ký phiên tòa: Vũ Thanh Thủy, Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông

- Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 112/2018/TLPT-DS ngày 16 tháng 3 năm 2018 về việc: “Yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho tài sản; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; đòi lại tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 27/2017/DS-ST ngày 04/12/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112A/2018/QĐ-PT ngày 02-5-2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn L và bà Ứng Thị Bích T. Cùng địa chỉ: số 26 đường N, phường P, thành phố N1, tỉnh Khánh Hòa.

2. Bị đơn:

2.1. Ông Nguyễn Thanh H. Địa chỉ: số 26 đường N, phường P, thành phố N1, tỉnh Khánh Hòa.

2.2. Bà Phạm Ngọc Phương L1. Địa chỉ: số 07 đường M, phường P1, thành phố N1, tỉnh Khánh Hòa. Phương L1:

-

Q - Công ty

V

-

T1 - Công ty

G

-

L2 -

H

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ủy ban nhân dân thành phố N1, tỉnh Khánh Hòa. Địa chỉ: Số 42 đường L4, phường L5, thành phố N1, tỉnh Khánh Hòa.

3.2. Cháu Nguyễn Thanh Nhật M - sinh năm 2006. Địa chỉ: Số 07 đường M, phường P1, thành phố N1, tỉnh Khánh Hòa.

Người đại diện theo pháp luật cho cháu M: ông Nguyễn Thanh H và bà Phạm Ngọc Phương L1.

4. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn L, bà Ứng Thị Bích T và bị đơn bà Phạm Ngọc Phương L1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn, ông Nguyễn Văn L và bà Ứng Thị Bích T trình bày:

- Nhà, đất 26 Đường N, Thành phố N1 có nguồn gốc là do vợ chồng ông, bà tạo lập và đã sống tại nhà này từ năm 1998 đến nay. Ông, bà có 03 người con trai (trong đó Nguyễn Thanh H là con út). Vợ chồng đã đến tuổi già trên cơ sở tình yêu thương và mong muốn các con ổn định cuộc sống, gia đình hạnh phúc nên khoảng ngày 23/03/2010 vợ chồng ông, bà có gọi các con trai về họp thống nhất việc tặng cho nhà, đất 26 Đường N cho các con đồng thời có lập một văn bản “Lời căn dặn của cha mẹ trước khi cho các con thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng nhà ở và tài sản gắn liền với đất”, yêu cầu các con phải ký cam kết vào văn bản này để thực hiện. 03 người con trai (trong đó có H) và một người con dâu trưởng là L3 đã ký vào văn bản Lời căn dặn trên (sở dĩ văn bản này chỉ bắt buộc 03 người con trai phải ký bởi ông, bà xác định 03 người con trai phải chịu trách nhiệm chính đối với lời căn dặn này). Trong văn bản lời căn dặn có một nội dung rất quan trọng là: “Chúng tôi có quyền ở căn nhà này cho đến khi qua đời”, vợ chồng H, L1 phải có nghĩa vụ chăm sóc vợ chồng chúng tôi đến phút cuối trước khi qua đời. Xuất phát từ ý chí và lời căn dặn trên, nên ngày 22/6/2010, vợ chồng ông bà đã lập Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với nhà, đất 26 Đường N, phường P, thành phố N1 cho con trai là Nguyễn Thanh H và con dâu là Phạm Ngọc Phương L1.

Tại thời điểm lập Hợp đồng tặng cho thì căn nhà 26 Đường N, Thành phố N1 chỉ là nhà cấp 4 cũ kết cấu mái tôn, tường gạch.

Năm 2011, ông, bà thấy căn nhà đã bị hư hỏng nặng, chỗ ở chật chội nên để có chỗ ở và sinh hoạt phù hợp với vợ, chồng ông, bà và phù hợp với vợ chồng H, L1 nên ông, bà đã thống nhất với vợ chồng H, L1 là sẽ phá bỏ toàn bộ căn nhà cũ để xây dựng lại căn nhà mới (như hiện nay). Toàn bộ số tiền chi phí xây dựng nhà mới là do ông, bà bỏ ra. Mục đích bỏ tiền xây dựng lại nhà 26 Đường N, Thành phố N1 là để ông, bà sẽ ở tại căn nhà này cùng vợ chồng H, L1 cho đến khi qua đời và H, L1 phải có nghĩa vụ chăm sóc ông, bà khi ốm đau, lúc tuổi già. Do đó, khi thiết kế nhà, H đã dành riêng một phòng tầng dưới để vợ chồng ông, bà ở. Sau khi xây dựng nhà xong, vợ chồng ông, bà vẫn ở và sinh sống tại đây cùng vợ chồng H, L1.

Quá trình sống chung thấy vợ chồng H, L1 thường xảy ra mâu thuẫn, ghen tuông lẫn nhau, khoảng tháng 7/2015 L1 tự ý dọn đồ về nhà mẹ đẻ ở. Sau khi L1 dọn đi khỏi nhà 26 Đường N, Thành phố N1 thì vợ chồng ông, bà mới phát hiện vào năm 2014, H đã làm trái lời căn dặn của ông, bà mà H đã ký vào nội dung H đã cam kết, tự ý lập hợp đồng tặng cho ½ nhà, đất 26 Đường N, Thành phố N1 cho con gái là Nguyễn Thanh Nhật M (con chung của H và L1), để ngay lập tức L1 nhanh chóng làm thủ tục xin cấp Giấy CNQSDĐ và tài sản gắn liền với đất cho cháu M đứng tên (L1 là người giám hộ duy nhất) đồng thời nhà, đất 26 Đường N, Thành phố N1 do L1 và cháu M đồng sở hữu chủ trong khi vợ chồng ông, bà đang ở tại nhà, đất này.

Như vậy, H, L1 đã làm trái với lời căn dặn của ông, bà, và H đã vi phạm bản cam kết mà H đã ký. Tại thời điểm H ký Hợp đồng tặng cho con gái ½ nhà, đất 26 Đường N, Thành phố N1 căn nhà cấp 4 không còn, toàn bộ giá trị căn nhà mới xây dựng (năm 2011) trên đất là tài sản thuộc quyền sở hữu của ông, bà, nhưng UBND thành phố N1 khi cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất đối với ½ nhà, đất 26 Đường N, Thành phố N1 cho cháu M, không xem xét thẩm tra phần nhà mới xây đựng trên đất là tài sản thuộc quyền sở hữu của ông, bà.

- Đối với nhà, đất 143 Đường P2, Thành phố N1: Đây là tài sản của vợ chồng ông, bà đã bỏ toàn bộ số tiền 1.100.000.000 đồng để mua của ông Lê Tuấn P4, mục đích cho thuê kiếm thêm thu nhập trang trải cuộc sống. Toàn bộ số tiền mua nhà bà T đã giao trực tiếp cho người bán nhà là ông Lê Tuấn P4. Việc ông, bà để cho H và L1 đứng tên để khi cho thuê nhà thuận tiện trong giao dịch ký hợp đồng (cụ thể là đối với khách hàng là người nước ngoài thuê vì ông, bà không biết ngoại ngữ). Ngày 23/7/2013, H có viết cho ông, bà một bản cam kết vợ chồng H đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất đối với nhà, đất 143 Đường P2, Thành phố N1 của ông, bà. Ngày 31/12/2014, H đã tự ý lập Hợp đồng tặng cho ½ tài sản cho L1 để L1 đứng tên một mình ông bà khống hề hay biết. Như vậy, H và L1 đã xâm phạm nghiêm trọng đến quyền về tài sản của ông, bà.

Từ những lý do trên, ông bà khởi kiện yêu cầu Tòa giảỉ quyết các nội dung sau:

1/ Hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất lập ngày 22/6/2010 đối với nhà, đất 26 Đường N, Thành phố N1 giữa bên tặng cho là ông Nguyễn Văn L, bà ứng Bích T với bên nhận tặng cho là ông Nguyễn Thanh H, bà Phạm Ngọc Phương L1.

2/ Hủy hợp đồng tặng cho ½ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất lập ngày 13/8/2014 đối với nhà, đất 26 Đường N, Thành phố N1 giữa bên tặng cho ông Nguyễn Thanh H và bên nhận tặng cho là Nguyễn Thanh Nhật M.

3/ Hủy Hợp đồng tặng cho ½ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với nhà, đất tại 143 Đường P2, Thành phố N1 lập ngày 31/12/2014 giữa bên tặng cho là ông Nguyễn Thanh H và bên nhận tặng cho là bà Phạm Ngọc Phương L1.

4/ Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số BB 459262 đứng tên ông Nguyễn Thanh H và bà Phạm Ngọc Phương L1; Giây chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số BU815832 đứng tên Nguyễn Thạnh Nhật M và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số BU815833 đứng tên bà Phạm Ngọc Phương L1 đối vớỉ nhà, đất 26 Nhị Hấ, Thành phố N1.

5/ Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số B0783355 đứng tên bà Phạm Ngọc Phương L1 và ông Nguyễn Thanh H và phần nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý ghi: “Ngày 14/01/2015 tặng cho bà Phạm Ngọc Phương L1”.

6/ Buộc ông Nguyễn Thanh H và bà Phạm Ngọc Phương L1 trả lại tài sản là nhà đất số 26 đường N, phường P và nhà, đất tại số 143 đường P2, phường P3, thành phố N1 cho ông bà, vì hiện nay ông bà đã già, không còn sở hữu bất kỳ tài sản nào khác và không còn bất kỳ chỗ ở riêng nào khác.

Bị đơn:

1/ Tại bản tự khai đề ngày 23/6/2017, Biên bản hòa giải ngày 17/8/2017 và Bản trình bày ý kiến đề ngày 28/11/2017, bà Phạm Ngọc Phương L1 trình bày như sau:

- Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn liên quan đến nhà, đất 26 Đường N, Thành phố N1 bà L1 có ý kiến như sau: Năm 2010, ông L và bà T đã tặng cho vợ chồng bà nhà đất này, việc tặng cho là hợp pháp và trên tinh thần tự nguyện không kèm theo điều kiện nào của người đã tặng cho (nguyên đơn). Do căn nhà tặng cho là nhà cấp 4 đã cũ và hư hỏng nhiều nên vào năm 2011 vợ chồng bà có trao đổi, bàn bạc với cha, mẹ chồng đập bỏ toàn bộ nhà cũ xây dựng lại nhà mới. Kinh phí xây dựng lại nhà vợ chồng bà bỏ ra là 400.000.000 đồng và cha, mẹ chồng bỏ ra bao nhiêu bà không nhớ và không nắm được vì toàn bộ tiền chi phí xây dựng là mẹ chồng (bà T) theo dõi nên bà không biết và không nhớ.

Do đó, bà không đồng ý các nội dung yêu cầu khởi kiện của ông L và bà T liên quan đến nhà, đất 26 Đường N, Thành phố N1. Bà L1 đề nghị Tòa án tiếp tục giữ nguyên hiệu lực của Hợp đồng tặng cho ngày 22/6/2010. Đối với giá trị của ngôi nhà được xây dựng mới sau khi có việc tặng cho có phần đóng góp chung của bố mẹ chồng và vợ chồng bà. Bà L1 đề nghị Tòa xác định phần giá trị đó để chi trả cho nguyên đơn.

- Đối với nhà đất số 143 đường P2, Thành phố N1: Tài sản này là do vợ chồng bà mua với giá 1.090.000.000 đồng (trong đó có vay của ông L, bà T 500.000.000 đồng). Việc giao dịch mua bán do bà và bà T cùng thực hiện. Vợ chồng bà đã trả được cho bố mẹ chồng 40.000.000 đồng. Do đó, bà đồng ý trả cho ông L và bà T số tiền còn nợ mua nhà là 460.000.000 đồng, không đồng ý trả lại nhà, đất 143 Đường P2, Thành phố N1 cho ông L và bà T.

2. Ông Nguyễn Thanh H trình bày:

- Đối với nhà 26 Đường N, Thành phố N1 ông H có ý kiến như sau: Nhà 26 Đường N, Thành phố N1 có nguồn gốc cha, mẹ (ông L và bà T) mua và ở tại đây từ năm 1998. Năm 2010, cha, mẹ ông có lập hợp đồng tặng cho nhà, đất này cho ông và bà L1. Trước khi cho nhà cha, mẹ có lập một Bản lời căn dặn yêu cầu các con phải ký, tại Điều III của lời căn dặn có nội dung cha, mẹ có quyền ở tại nhà này cho đến khi qua đời. Bản lời căn dặn này có chữ ký của 03 anh em trai ông và người chị dâu trưởng. Năm 2011, do nhà đã bị xuống cấp hư hỏng, chật chội không đảm bảo chỗ ở sinh hoạt của cha, mẹ và của vợ chồng ông nên cha, mẹ có thống nhất với vợ chồng ông là cha, mẹ bỏ toàn bộ tiền xây dựng lại nhà mới. Để đảm bảo quyền lợi của cha, mẹ khi bỏ tiền xây dựng nhà nên ngày 5/5/2011 ông có viết một bản cam kết có nội dung vợ chồng ông không được tự ý cho thuê, thế chấp, chuyển nhượng hoặc tặng cho đối với nhà đất tại 26 Đường N khi chưa được sự đồng ý của cha, mẹ. Sau khi xây dựng nhà xong cha, mẹ cùng vợ chồng ông đã ở tại đây. Do đó, ông khẳng định căn nhà được xây dựng trên đất tại địa chỉ 26 Đường N, Thành phố N1 thuộc quyền sở hữu của cha, mẹ, ông và bà L1 không đóng góp bất kỳ khoản tiền nào trong việc xây dựng căn nhả 26 Đường N, Thành phố N1. Việc cha, mẹ đồng ý bỏ tiền xây dựng lại nhà là theo đúng tinh thần của Bản lời căn dặn là cha, mẹ ở đến khi cha, mẹ qua đời.

Vào năm 2014, ông có lập hợp đồng tặng cho ½ nhà, đất 26 Đường N, Thành phố N1 cho con gái là Nguyễn Thanh Nhật M là do thời điểm này quan hệ hôn nhân giữa ông và bà L1 có mâu thuẫn căng thẳng, nguyên nhân là do bà L1 ghen tuông cho rằng ông có quan hệ với người phụ nữ khác. Bà L1 sợ mất quyền lợi về tài sản nên yêu cầu ông chuyển ½ nhà, đất 26 Đường N, Thành phố N1 (phần tài sản của ông) cho con gái Nhật M đứng tên đồng sở hữu với bà L1, lúc này ông đồng ý vì chỉ nghĩ đơn giản là cho quan hệ vợ chồng bớt căng thẳng và tài sản sau này cũng là để cho con (cháu M) nên ông đã đồng ý ký vào hợp đồng tặng cho con gái ½ nhà, đất 26 Đường N, Thành phố N1 theo yêu cầu của bà L1. Mọi việc trên ông không trao đổi, thông qua cha, mẹ đã vi phạm các điều kiện trước khi cha, mẹ tặng cho tài sản và bỏ tiền xây dựng lại nhà.

Do đó việc cha, mẹ khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho và hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đát và quyền sở hữu nhà liên quan đến nhà, đất 26 Đường N, Thành phố N1 ông hoàn toàn đồng ý.

- Đối với nhà đất tại số 143 đường P2, Thành phố N1:

Ông H khẳng định nhà, đất này là do ông L và bà T đã bỏ tiền ra mua vào năm 2013 với mục đích để cho thuê. Vì cha, mẹ ông đã lớn tuổi, việc đi lại giao dịch khó khăn nên để ông và bà L1 đứng tên nhà đất trên. Trước khi đứng tên sở hữu đối với tài sản này ông có cam kết tài sản này ông và bà L1 đứng tên hộ. Hoàn toàn không có việc ông và bà L1 mua nhà này và mượn ông L và bà T 500.000.000 đồng như bà L1 đã khai.

Vào năm 2014, ông có ký vào hợp đồng tặng cho bà L1 ½ nhà đất 143 Đường P2, Thành phố N1 là vì thời điểm này ông đang cần số tiền 200.000.000 đồng để lập công ty riêng, ông có nói với bà L1 đưa Giấy chứng nhận quyền sở hữu và sử dụng nhà, đất 143 Đường P2, Thành phố N1 để ông thế chấp Ngân hàng vay tạm khoản tiền trên. Bà Loàn đưa ra yêu cầu là ông phải ký vào Hợp đồng tặng cho nhà, đất trên để bà L1 đứng tên một mình thì bà L1 đưa cho ông số tiền 200.000.000 đồng. Vì cần tiền gấp nên ông đồng ý ký vào hợp đồng tặng cho tạm thời để bà L1 yên tâm đưa tiền cho ông. Tuy nhiên, sau khi ông ký xong bà L1 không thực hiện lời hứa, không đưa tiền cho ông nên ông đã làm đơn tố cáo hành vi lừa đảo của bà L1 tại Công an thành phố N1.

Do đó, một lần nữa ông H khẳng định nhà đất tại số 143 đường P2, Phường P3, Thành phố N1 là tài sản thuộc quyền sở hữu của ông L và bà T. Việc ông tặng cho bà L1 ½ tài sản là xâm phạm đến quyền về tài sản của ông L và bà T nên ông đồng ý trả lại tài sản trên theo yêu cầu khởi kiện của ông L và bà T.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. UBND thành phố N1:

Tại Công văn số 5062/UBND-TNMT ngày 03/8/2017, đại diện UBND thành phố N1 là ông Lê Hữu Thọ - Chủ tịch trình bày:

Nhà, đất tại 26 Đường N, Phường P, Thành phố N1 được UBND thành phố N1 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00063/22372 ngày 25/5/2010 cho ông Nguyễn Văn L và bà ứng Thị Bích T.

Năm 2010, ông L, bà T tặng cho toàn bộ nhà đất trên cho ông Nguyễn Thanh H và bà Phạm Ngọc Phương L1 theo Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 230, được phòng công chứng 1 tỉnh Khánh Hòa chứng thực ngày 22/6/2010. Theo đó, UBND thành phố N1 cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 0118/22372 ngày 25/8/2010 cho ông H và bà L1.

Năm 2014, ông H tặng cho toàn bộ phần tài sản của mình là ½ nhà, đất trên cho con là Nguyễn Thanh Nhật M và để con là Nguyễn Thanh Nhật M (sinh năm 2006) đứng tên đồng chủ sử dụng với bà L1 đối với nhà đất trên theo hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 8184 được Văn phòng công chứng Trung tâm chứng thực ngày 13/8/2014. Theo đó, UBND thành phố N1 cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 01549/22372 ngày 25/9/2014 cho bà L1 và cháu M.

Như vậy, việc UBND thành phố N1 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H và bà L1, sau đó cấp đổi lại cho bà L1 và cháu M là đúng trình tự thủ tục. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc đề nghị hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên là không có cơ sở.

Tại công văn số 7568/UBND-TNMT ngày 03/11/2017 của UBND thành phố N1 về việc, ý kiến đối với việc cấp GCNQSDĐ tại 143 Đường P2, Phường P3, Thành phố N1 có nội dung: “Căn cứ Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ và tài sản gắn liền với đất giữa bà Nguyễn Thị M2 với ông Lê Tuấn P4, bà Ngô Thị Hồng T2 và giữa ông Lê Tuấn P4, bà Ngô Thị Hồng T2 với ông Nguyễn Thanh H, bà Phạm Ngọc Phương L1 (đều được Phòng công chứng số X tỉnh Khánh Hòa chứng thực) các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã giải quyết hồ sơ chuyển nhượng và cấp giấy chứng nhận số CH00609/22354 ngày 18/9/2013 cho ông Nguyễn Thanh H và bà Phạm Ngọc Phương L1 tại nhà đất số 143 Đường P2, Phường P3, Thành phố N1 là đúng trình tự pháp luật”.

2. Phần trình bày của người đại diện theo pháp luật của cháu M (người có quyền và nghĩa vụ liên quan):

- Bà L1 (mẹ đẻ) trình bày (Bản trình bày ý kiến tại phiên tòa đề ngày 28/11/2017): Năm 2014, ông H đã lập hợp đồng tặng cho phần tài sản của mình (1/2 giá trị nhà đất 26 Đường N, Thành phố N1) cho con gái Nguyễn Thanh Nhật M, việc tặng cho trên là tự nguyện. Do đó, đề nghị Tòa án bác các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (tại địa chỉ 26 Đường N) và không chấp thuận các yêu cầu của ông Nguyễn Thanh H.

- Ông H (cha của cháu M) trình bày:

Việc ông lập hợp đồng tặng cho 1/2 căn nhà 26 Đường N cho con gái là do tại thời m này giữa ông và vợ có mâu thuẫn. Vợ ông không tin tưởng ông, sợ ông có quan hệ với người phụ nữ khác làm mất quyền lợi về tài sản nên ông làm hợp đồng tặng cho tài sản cho con gái, ông nghĩ tài sản sau này cũng cho con nên ông đã làm hợp đồng tặng cho trong khi không trao đổi gì với cha, mẹ. Do đó, ông đ ng ý yêu cầu khởi kiện của ông L và bà T.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 27/2017/DS-ST ngày 04/12/2017, Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa quyết định:

Căn cứ Điều 166 và Điều 462 Bộ luật Dân sự 2015;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn L và bà Ứng Thị Bích T về việc “yêu cầu Hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đòi tài sản” là nhà, đất 26 Đường N, Thành phố N1 và 143 Đường P2, Thành phố N1 đối với bị đơn ông Nguyễn Thanh H và bà Phạm Ngọc Phương L1.

2. Tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bên tặng cho là ông Nguyễn Văn L, bà Ứng Thị Bích T với bên nhận tặng cho là ông Nguyễn Thanh H, bà Phạm Ngọc Phương L1 đối với nhà, đất số 26 đường N, thành phố N1 lập ngày 22/6/2010 bị vô hiệu đối với phần tài sản tặng cho ông Nguyễn Thanh H tương đương với ½ nhà, đất số 26 đường N, thành phố N1.

2.1. Tuyên bố hợp đồng tặng cho 1/2 quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bên tặng cho ông Nguyễn Thanh H và bên nhận tặng cho là cháu Nguyễn Thanh Nhật M lập ngày 13/8/2014 bị vô hiệu.

2.2. Xác định toàn bộ căn nhà được xây dựng trên đất tại địa chỉ số 26 đường N, thành phố N1 có giá trị 1.165.000.000đ là tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Văn L và bà ứng Thị Bích T.

2.3. Ông Nguyễn Văn L và bà Ứng Thị Bích T được quyền sở hữu và sử dụng toàn bộ nhà, đất số 26 đường N, phường P, thành phố N1 có diện tích đất là 138,83m2 và nhà cùng tất cả các công trình xây dựng có trên đất.

2.4. Ông Nguyễn Văn L và bà ứng Thị Bích T có nghĩa vụ thanh toán 1/2 giá trị quyền sử dụng đất tại địa chỉ số 26 đường N, thành phố N1 là phần tài sản ông L, bà T đã tặng cho bà L1, cụ thể số tiền phải thanh toán là 2.082.450.000đ (Hai tỷ, không trăm tám mươi hai triệu, bốn trăm năm mươi nghìn đồng chẵn).

2.5. Hủy toàn bộ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU815832 đứng tên Nguyễn Thanh Nhật M do Ủy ban nhân dân thành phố N1 cấp cho Nguyễn Thanh Nhật M ngày 25/9/2014.

2.6. Sau khi ông Nguyễn Văn L và bà Ứng Thị Bích T đã thanh toán đủ cho bà Phạm Ngọc Phương L1 số tiền 2.082.450.000đ (Hai tỷ, không trăm tám mươi hai triệu, bốn trăm năm mươi nghìn đồng chẵn). Ông Nguyễn Văn L và bà Ứng Thị Bích T có quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền xin đăng ký điều chỉnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo điểm 2.2 của Quyết định này.

3. Xác định giá trị nhà, đất số 143 đường P2, thành phố N1 là tài sản thuộc sở hữu của ông Nguyễn Văn L và bà Ứng Thị Bích T.

3.1. Tuyên bố hợp đồng tặng cho 1/2 quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là nhà, đất 143 Đường P2 giữa bên tặng cho ông Nguyễn Thanh H và bên nhận tặng cho là bà Phạm Ngọc Phương L1 lập ngày 31/12/2014 là vô hiệu.

3.2. Hủy nội dung thay đổi ngày 14/01/2015 ghi “tặng cho bà Phạm Ngọc Phương L1, sn: 1979 cmnd số: xxxxxxxxx, thường trú sỗ 7 đường M, Phường P1, Thành phố N1, tỉnh Khánh Hòa theo hồ sơ sổ 237” trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 783355 do Ủy ban nhân dân thành phố N1 cấp cho ông Nguyễn Thanh H và bà Phạm Ngọc Phương L1.

3.3. Giao cho b Phạm Ngọc Phương L1 và ông Nguyễn Thanh H được sở hữu và sử dụng toàn bộ nhà, đất số 143 đường P2, thành phố N1.

3.4. Bà Phạm Ngọc Phương L1 và ông Nguyễn Thanh H có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Văn L và bà ứng Thị Bích T giá trị nhà, đất số 143 đường P2, thành phố N1 là 1.100.000.000đ (Một tỷ, một trăm triệu đồng).

3.5. Việc tranh chấp tài sản chung đối với nhà, đất số 143 đường P2, thành phố N1 giữa ông Nguyễn Thanh H và bà Phạm Ngọc Phương L1 sẽ được giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi các bên đương sự có yêu cầu.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 5 tháng 12 năm 2017, nguyên đơn ông Nguyễn Văn L, bà Ứng Thị Bích T

đơn

nhà, đất số 26 đường N nhà, đất số 143 đường P2, thành phố N1.

Ngày 11 tháng 12 năm 2017, bị đơn bà Phạm Ngọc Phương L1

không

M k

nguyên đơn

M.

L1

ký của

; 23/3/2010 05/5/2011.

thành phố Đà Nẵng,

-

mang tên Nguyễn Văn L,

T

H

- Không đ

C

C

L3 trên

hay không.

-

.

L1

– P

–

-

L

T

H

C

L3

C

Công văn

-

kháng cáo.

T1

: V

không

Đường N Hoa C nên ông L, bà T không

văn b

không

hợp đồng

143 Đường P2, không

H

L1

Ủy ban nhân dân

P1, ông H

T

143 Đường P2

T

L2

:

: V

L1

không

T

H

hợp đồng

143 Đường P2

143 Đường P2

P4

hợp đồng

ông H

ông H

M

M

H

Q

không

hợp đồng

n không

H

không

L1 nên L1 không

ện kiể

Đường N

ông L, bà T. 23/3/2010, ông L, bà T

Điều

Ngày 22/6/2010, ông L và bà T lập

tặng cho ông H, L1. Năm 2014, ông H

hợp đồng M ½

, không

ông L, bà T l

hợp đồng cho

hợp đồng

pháp luật.

Đường P2, hợp đồng

L1

L1 ông P4

ông L, bà T mua, ông H L1

hợp đồng

, giao cho ông H, L1

ông L, bà T

pháp luật.

kháng cáo

đương sự,

.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Đối với nhà đất 26 Đường N

Thành phố N1:

Nhà đất tại 26 Đường N, Thành phố N1 có nguồn gốc do ông L, bà T tạo l

rước đây ông, bà có để cho con trai là Nguyễn Hoa C đứng tên. Tháng 5/2010, ông

Hoa C làm thủ tục chuyển trả nhà đất trên cho ông L, bà T. Ngày 25/5/2010, ông L và bà T được UBND thành ph Thành phố N1 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở v tài sản gắn liền với đất số BB 586602, vào sổ cấp GCN số 00063/22372 đ i với nhà đất 26 Đường N, Thành phố N1. [2] Ngày 22/6/2010, ông L và bà T lập

tặng cho nhà, đất số 26 Đường N, Thành phố N1 cho con trai là Nguyễn Thanh H và con dâu là Phạm Ngọc Phương L1.

tặng cho được công chứng tại Phòng Công chứng số X tỉnh Khánh Hòa. Ngày 25/8/2010, ông H và bà L1 được UBND thành phố N1 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn li n với t số BB 459262. Tại thời điểm lập hợp đồng tặng cho, căn nhà 26 Đường N, Thành phố N1 là nhà cấp 4 tường gạch, mái tôn + ngói, diện tích 56,6m2 (thể hiện trong h đồng tặng cho và trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở v tài sản gắn liền với đất đã cấp cho H và L1). [3] Năm 2011, vợ chồng ông L, bà T cùng vợ chồng ông H, bà L1 đã phá bỏ toàn bộ căn nhà cũ và xây dựng lại nhà mới 02 tầng với diện tích xây dựng mới 180m2 như hiện nay.

giao dịch ký

đồng thuê khoán thi công, thanh toán tất cả các khoản tiền chi phí cho việc xây dựng lại nhà 26 Đường N do bà T là người trực tiếp thực hiện

số tiền chi phí xây l i nhà 26 Đường N, Thành phố N1

ông L, bà T. Bà L1

M vợ chồng bà có đóng góp số tiền 400.000.000 đồng để xây dựng mới nhà 26 Đường N, Thành phố N1.

nhà

26 Đường N, Thành phố N1 nhưn

ông L, bà T. [4] Trước khi

tài sản nhà đất

26 Đường N, Thành phố N1 cho H, L1 đứng tên

03/2010 ông L, bà T có lập

“Lời căn dặn của cha mẹ trước kh

“Lời căn dặn”)

Điều I của

“Lời căn dặn” có nội dung: “

B Đường N

Kim C nay

Nguyễn Hoa C

L3

127,5m2.

Điều II có nội dung:

Đường N

C

2

H

L1

Điều III có nội dung:

L

T có quyền ở tại 2

đời”. [5]

ông L, bà T

C

C

H

L3. N

h không

pháp luậ

;

H

nghĩa vụ

“chăm sóc,

”

“

L

T có quyền ở tại 2

”

nghĩa vụ

H

L1

ông L, bà T

H

/2 ph n tài sản của ông H nhà đất 26 Đường N cho con gái là Nguyễn Thanh Nhật M khi ông L, bà T

ông L, bà T

H không

nghĩa vụ

3 Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2005, ông L, bà T cho ông H.

nguyên đơn

H

hợp đồng L1 [6]

k

nguyên đơn

nhà đất 26 Đường N

không

không

nghĩa vụ

không

hợp đồng

hợp đồng [7]

hợp đồng

Điều 646 Bộ luật Dân sự năm 2005). Trong

ông L, bà T

hợp đồng

không th [8] Tại thời đi m ông H ký

đồng tặng cho ½ nhà đất 26 Đường N, Thành phố N1 cho con gái là

M thì căn nhà cấp 4 tường gạch, mái tôn diện tích 56m2 ghi trong

đồng tặng cho và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất không còn,

là căn nhà mới được xây dựng năm 2011. Tài sản

này thuộc quyền sở hữu của ông L, bà T. Như vậy, việc tặng ½ nhà đất của ông H cho con gái Nhật M không có sự đồng ý của ông L, bà T đã vi phạm các điều cam kết

“Lời căn dặn”, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền

ông L, bà T. Do đó, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền v đất đối với nhà đất 26 Đường N, Thành phố N1 giữa bên tặng cho ông Nguyễn Thanh H và bên nhận tặng cho là Nguyễn Thanh Nhật M bị vô hiệu. [9] S

ông L, bà T không có chỗ ở nào khác, để bảo đảm quyền lợi chỗ , cuộc sống, sinh hoạt tuổi già cho ông L, bà T, đồng th i đảm bảo quyền lợi cho bà L1 là người đã được ông, bà tặng cho hợp pháp đối với phần tài sản nhà, đất 26 Đường N, k

nguyên đơn, giao cho ông L, bà T được sở hữu toàn bộ nhà, đất 26 Đường N và

ông L, bà T có nghĩa vụ thanh toán ½ giá trị quyền sử dụng đất cho bà L1 [10] Đối v i nhà, đất tại 143

Đường P2

P3, thành phố N1:

iấy xác nhận lập ngày 10/3/2016 và bản trình bày ý kiến ngày 26/9/2017 của ông Lê Tuấn P4 (người bán nhà) gửi cho Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, ông P4 xác nhận ông đã nhận đủ s

do bà T rút tiền tại Ngân hàng và trực tiếp thanh toán cho ông vào ngày 8/8/2013. [11] Tại biên bản lấy lời khai ngày 11/5/2016 do Cơ quan điều tra - Công an thành phố N1 thực hiện, bà L1 đã khai:

“...Đ với nội dung t c o của bà T cho rằng ngôi nhà trên đất tại địa ch 143 Đường P2, Thành phố N1 do bà T mua, cho vợ chồng tôi đứng tên trên giấy tờ và yêu cầu tôi trả lại nhưng tôi không trả. Tôi xin trình bày như sau: xác nhận căn nhà tại địa chỉ trên đ ng là của mẹ chồng tôi (bà T) mua....”. [12]

L1

Cơ quan điều tra

ông P4,

bà T rút tiền tại Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh Khánh Hòa

trực tiếp thanh toán số tiền P4.

L, bà T mua nhà 143 Đường P2, Thành phố N1 nhưng không có việc mua đ tặng cho vợ chồng H, L1 và xác định nhà đất 143 Đường P2, Thành phố N1 là tài sản thuộc quyền sở hữu của ông L, bà T, do ông bà mua và để cho ông H, bà L1 đứng tên hộ [13] Bà L1

nhà, đất 143 Đường P2, Thành phố N1 là của vợ chồng bà đã bỏ tiền ra mua và có mượn của ông L, bà T số tiền 500.000.000 đồng nhưng không

L1

không ông L, bà T cho vợ chồng [14] Việc ông H ký hợp đồng tặng cho ½ tài sản trên là xâm phạm

ông L, bà T. Do đó,

h đ ng tặng cho tài sản giữa ông H và bà L1 đối với nhà, đất trên không có giá trị pháp lý, bị vô hiệu

. [15]

xét hiện tại bà L1 đang quản lý sử dụng nhà, đất số 143 Đường P2, Thành phố N1, quan h hôn nhân giữa ông H và bà L1 đang tồn tại. Để đảm bảo quyền lợi về chỗ ở cho bà L1 và ông H, giao cho ông H, bà L1 được quyền sở hữu và sử dụng đối với nhà đất tại 143 Đường P2, Thành phố N1 và có nghĩa vụ thanh toán giá trị nhà, đất cho ông L và bà T theo chuy n nhượng là 1.100.000.000 đồng

. [16]

cho

H

M

H

M

: Trong

H

M không

M L1

.

không

g H

không

M. [17] ông Nguyễn Văn L, bà ng Thị Bích T

kháng cáo

bà Phạm Ngọc Phương L1;

nguyên [18] [19]

L1

10.072.000đ.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

ông Nguyễn Văn L, bà ng Thị Bích T kháng cáo

bà Phạm Ngọc Phương L1;

Căn cứ Điều 128, Điều 425, Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2005.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn L và bà ng Thị Bích T về việc “yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đòi tài s n” đ với bị đơn ông Nguyễn Thanh H và bà Phạm Ngọc Phương L1.

2.

hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bên tặng cho là ông Nguyễn Văn L, bà ng Thị Bích T với bên nhận tặng cho là ông Nguyễn Thanh H, bà Phạm Ngọc Phương L1 lập ngày 22/6/2010 đối với phần tài sản tặng cho ông Nguyễn Thanh H tương đương với ½ nhà đất số 26 đường N, thành phố N1.

2.1. Tuyên bố hợp đồng tặng cho ½ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bên tặng cho ông Nguyễn Thanh H và bên nhận tặng cho là cháu Nguyễn Thanh Nhật M lập ngày 13/8/2014 bị vô hiệu.

2.2. Xác định toàn bộ căn nhà được xây dựng trên đất tại địa chỉ số 26 đường N, thành phố N1 có giá trị 1.165.000.000đ là tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Văn L và bà ứng Thị Bích T.

2.3. Ông Nguyễn Văn L và bà Ứng Thị Bích T được quyền sở hữu và sử dụng toàn bộ nhà, đất số 26 đường N, phường P, thành phố N1 có diện tích đất là 138,83m2 và nhà cùng tất cả các công trình xây dựng có trên đất.

2.4. Ông Nguyễn Văn L và bà ứng Thị Bích T có nghĩa vụ thanh toán ½ giá trị quyền sử dụng đất tại địa chỉ số 26 đường N, thành phố N1 là phần tài sản ông L, bà T đã tặng cho bà L1, cụ thể số tiền phải thanh toán

Phạm Ngọc Phương L1 là 2.082.450.000đ (Hai tỷ, không trăm tám mươi hai triệu, bốn trăm năm mươi nghìn đồng chẵn).

2.5. Hủy toàn bộ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU815832 đứng tên Nguyễn Thanh Nhật M do Ủy ban nhân dân thành phố N1 cấp ngày 25/9/2014.

2.6. Sau khi ông Nguyễn Văn L và bà Ứng Thị Bích T thanh toán đủ cho bà Phạm Ngọc Phương L1 số tiền 2.082.450.000đ (Hai tỷ, không trăm tám mươi hai triệu, bốn trăm năm mươi nghìn đồng chẵn). Ông Nguyễn Văn L và bà Ứng Thị Bích T có quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền xin đăng ký điều chỉnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo điểm 2.2 của Quyết định này.

3. Xác định nhà đất số 143 đường P2, thành phố N1 là tài sản thuộc sở hữu của ông Nguyễn Văn L và bà Ứng Thị Bích T.

3.1. Tuyên bố hợp đồng tặng cho ½ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là nhà, đất 143 Đường P2 giữa bên tặng cho ông Nguyễn Thanh H và bên nhận tặng cho bà Phạm Ngọc Phương L1 lập ngày 31/12/2014 là vô hiệu.

3.2. Hủy nội dung thay đổi ngày 14/01/2015 ghi “tặng cho bà Phạm Ngọc Phương L1, sn: 1979 cmnd số: xxxxxxxxx, thường trú s 7 đường M, Phường P1, Thành phố N1, tỉnh Khánh Hòa theo hồ sơ s 237” trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 783355 do Ủy ban nhân dân thành phố N1 cấp cho ông Nguyễn Thanh H và bà Phạm Ngọc Phương L1.

3.3. Giao cho b Phạm Ngọc Phương L1 và ông Nguyễn Thanh H được sở hữu và sử dụng toàn bộ nhà đất số 143 đường P2, thành phố N1.

3.4. Bà Phạm Ngọc Phương L1 và ông Nguyễn Thanh H có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Văn L và bà ng Thị Bích T giá trị nhà đất số 143 đường P2, thành phố N1 là 1.100.000.000đ (Một tỷ, một trăm triệu đồng).

L1

5

5

Ông Nguyễn Văn L và bà ng Thị Bích T

300.000đ

.

cho ông Nguyễn Văn L và bà ng Thị Bích T

72.49

biên lai số AA/2016/0006738 ngày 18/5/2017

Thành phố N1.

5

Ông Nguyễn Văn L và bà ng Thị Bích T

300.000đ án phí dân sự

biên lai số AA/2016/0000434 ngày 19/12/2017

.

Bà Phạm Ngọc Phương L1

300.000đ án phí dân sự

biên lai số AA/2016/0000432 ngày 15/12/2017

.

6. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ của mình thì hằng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất 10%/năm tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.

7.

.

Cỡ chữ