- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thanh H - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 160/2026/HS-ST Ngày: 24-8-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Diệu Tiên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thành Thật và ông Võ Thanh Tân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực
9 – An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – An Giang tham gia phiên
tòa: Ông Lê Tùng Dương – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 – An
Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 137/2026/TLST-HS ngày
31 tháng 7 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 143/2026/QĐXXST-
HS ngày 05 tháng 8 năm 2026, đối với bị cáo:
Lê Thanh H (Long), sinh ngày 01/7/2003 tại phường Mỹ Thới, tỉnh An
Giang; Nơi cư trú: Số 1/29A, khóm Thới An A, phường Mỹ Thới, tỉnh An Giang;
Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc:
Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 1/12; Con ông Lê Tấn Phát,
sinh năm 1982 và bà Lê Thị Thủy Tiên, sinh năm 1986.
Ngày 20 tháng 4 năm 2022, bị Ủy ban nhân dân phường Mỹ Thạnh (nay là
phường Mỹ Thới) xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng về hành vi trộm
cắp tài sản.
Tiền án: Ngày 11 tháng 7 năm 2024, bị Tòa án nhân dân thành phố Long
Xuyên xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a
Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Đến ngày 09 tháng 3 năm 2025 chấp hành
xong hình phạt tù.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 12/5/2026 tại Phân trại tạm giam Chợ Mới (Cơ
sở 2) - Trại tạm giam số 01, Công an tỉnh An Giang. (Có mặt)
- Bị hại: Ông Đỗ Thanh S, sinh ngày 10/9/1984. (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Số 17/3B, đường Trần Hưng Đạo, khóm Đông An 1, phường
X, tỉnh A.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Huỳnh Thanh V, sinh ngày 01/12/1970. (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Số 24/58 khóm T, phường Ti, tỉnh A.
2. Bà Ngô Thị P, sinh năm 1963. (Vắng mặt)
Nơi cư trú: khóm T, phường Ti, tỉnh A.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 11 tháng 7 năm 2024, Lê Thanh H bị Tòa án nhân dân thành phố
Long Xuyên xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Đến ngày 09 tháng 3 năm 2025 chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích.
Do cần tiền tiêu xài cá nhân, khoảng 02 giờ ngày 03 tháng 3 năm 2026, Lê
Thanh H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Thực hiện ý định, H đi bộ đến khu vực quán cà phê Thanh Thảo 2 của anh Đỗ Thanh S tại số 7/2, khóm An Thới, phường Mỹ Thới, tỉnh An Giang luồn qua phía dưới hàng rào đến tủ lạnh để nước ngọt bên trong quán, mở cửa tủ lạnh lấy 05 chai nhãn hiệu Sting, 13 lon nhãn hiệu PEPSI, 01 chai nhãn hiệu Twister, 06 chai nhãn hiệu Ô long, 14 lon nhãn hiệu Sting, 03 lon nhãn hiệu 7UP. Sau khi lấy trộm các tài sản nêu trên, H để vào 03 bọc nilong đen. Đến khoảng 07 giờ cùng ngày, H mang số tài sản trên đến quán cà phê Ngọc Lan, số 24/58 khóm T, phường Ti, tỉnh A bán cho anh Huỳnh Thanh V với giá 150.000 đồng, số tiền bán được H tiêu xài cá nhân. Đến ngày 04 tháng 3 năm 2026, H đến Công an phường Mỹ Thới, tỉnh An Giang đầu thú hành vi phạm tội.
Quá trình điều tra, H khai nhận với cách thức trên, trước đó còn 02 lần lấy
trộm nước ngọt, sữa tại quán cà phê Thanh Thảo 2, bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng 01 giờ ngày 01 tháng 3 năm 2026, H lấy trộm 01 chai
nhãn hiệu Sting, 02 lon nhãn hiệu PEPSI, 03 lon nhãn hiệu Warrior, 01 lon nhãn hiệu Carabao, 01 hộp giấy sữa đặc nhãn hiệu ngôi sao Phương Nam. Đến khoảng 07 giờ cùng ngày, H mang số nước ngọt trộm được đến địa chỉ 24/58 khóm T, phường Ti, tỉnh A bán cho Ngô Thị P với giá 110.000 đồng.
Lần thứ hai: Khoảng 01 giờ ngày 02 tháng 3 năm 2026, H lấy trộm 03 chai
nhãn hiệu Sting, 11 lon nhãn hiệu PEPSI, 01 chai nhãn hiệu Twister, 04 chai nhãn hiệu Ô long, 10 lon nhãn hiệu Sting, 05 lon nhãn hiệu 7UP. Đến khoảng 07 giờ cùng ngày, H mang số nước ngọt trên bán cho Vũ với giá 125.000 đồng.
Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 20/KL-HĐĐGTS ngày 24 tháng 4 năm
2026 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự trên địa bàn phường Mỹ Thới, xác định:
- 26 lon nước ngọt, nhãn hiệu PEPSI, mỗi lon thể tích 320ml, trị giá 236.000
đồng.
- 24 lon nước ngọt, nhãn hiệu Sting (đỏ), mỗi lon thể tích 320ml, trị giá
252.000 đồng.
- 05 lon nước ngọt, nhãn hiệu 7UP, mỗi lon thể tích 320ml, trị giá 48.500
đồng.
- 03 lon nước ngọt, nhãn hiệu Warrior (tím), mỗi lon thể tích 320ml, trị giá
30.600 đồng.
- 01 lon nước ngọt nhãn hiệu Carabao (xanh), thể tích 250ml, trị giá 12.300
đồng.
- 10 chai nhựa nước ngọt, nhãn hiệu Sting (đỏ), mỗi chai thể tích 320ml, trị
giá 104.000 đồng.
- 10 chai nhựa nước ngọt, nhãn hiệu Ô long, mỗi chai thể tích 450ml, trị giá
96.000 đồng.
- 02 chai nhựa nước ngọt, nhãn hiệu Twister, mỗi chai thể tích 450ml, trị
giá 21.000 đồng.
- 01 hộp giấy sữa đặc nhãn hiệu Southern Start ngôi sao Phương Nam, khối
lượng tịnh 1.284kg, trị giá 67.900 đồng.
Tổng giá trị tài sản được định giá là 868.300 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 199/CT-VKSKV9 ngày 30 tháng 7 năm 2026, Viện
kiểm sát nhân dân khu vực 9 – An Giang đã truy tố bị cáo Lê Thanh H về tội
“Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự
năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như
Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
điểm b Khoản 1 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Điều 38
Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thanh H từ 09 tháng tù đến 01 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại ông Đỗ Thanh S đã nhận
lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường nên không đề nghị xem xét, giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ
luật tố tụng hình sự, giao trả cho bị cáo số tiền 1.350.000 đồng
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của
mình như nội dung vụ án nêu trên, không bào chữa và tranh luận gì khác, lời nói
sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị P, ông Huỳnh Thanh V
khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên, các ông, bà không biết tài
sản do bị cáo H trộm cắp mà có, không yêu cầu bị cáo bồi thường.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát
viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều thực hiện đúng pháp luật.
Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không
có lý do mặc dù đã được Tòa án tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của những người này không trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ vào Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2]. Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội
dung Cáo trạng nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với các biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ để kết luận:
Bị cáo Lê Thanh H là người có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được
xóa án tích nhưng từ ngày 01/3/2026 đến ngày 03/3/2026, lợi dụng ban đêm không có người trông giữ, bị cáo lén lút vào quán cà phê Thanh Thảo 2 của ông Đỗ Thanh S lấy trộm 26 lon nước ngọt, nhãn hiệu PEPSI, 24 lon nước ngọt, nhãn hiệu Sting (đỏ), 05 lon nước ngọt, nhãn hiệu 7UP, 03 lon nước ngọt, nhãn hiệu Warrior (tím), 01 lon nước ngọt nhãn hiệu Carabao (xanh), 10 chai nhựa nước ngọt, nhãn hiệu Sting (đỏ), 10 chai nhựa nước ngọt, nhãn hiệu Ô long, 02 chai nhựa nước ngọt, nhãn hiệu Twister, 01 hộp giấy sữa đặc nhãn hiệu Southern Start ngôi sao Phương Nam, khối lượng tịnh 1.284kg, tổng trị giá tài sản bị cáo lấy trộm là 868.300 đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm
và hình phạt được quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (tội phạm ít nghiêm trọng). Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác và trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội.
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng,
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã 01 lần xử phạt vi phạm hành chính về hành
vi trộm cắp tài sản, đã bị xét xử về tội trộm cắp tài sản sau khi chấp hành xong hình phạt không chịu tu dưỡng đạo đức, làm ăn chân chính mà ngược lại bị cáo lười lao động nhưng muốn có tiền tiêu xài cá nhân bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trong thời gian chưa được xóa án tích. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, động cơ mục đích là chiếm đoạt được tài sản.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng
nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như
tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải, có hoàn
cảnh khó khăn, là đối tượng sống lang thang được xem xét đưa vào nuôi dưỡng
tập trung tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh An Giang. Đây là tình tiết để giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51
của Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật
hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có
thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét thấy, bị cáo không có
tài sản, nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn
hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan không có yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không đặt ra
xem xét, giải quyết.
[7]. Đối với số tiền 1.350.000 đồng bị cáo giao nộp. Hội đồng xét xử nhận
thấy, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai đây là tiền bị cáo để dành từ
trước với mục đích tiêu xài cá nhân hằng ngày và bị hại cũng đã nhận lại toàn bộ
tài sản, không pH là số tiền bị cáo thu lợi bất chính từ việc bán tài sản lấy trộm
nên có cơ sở xác định số tiền trên không liên quan đến hành vi phạm tội của bị
cáo. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao trả số tiền trên cho bị cáo.
[8]. Bị cáo pH chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Thanh H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ điểm b Khoản 1 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều
51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Lê Thanh H 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày
12/5/2026.
Căn cứ Điều 46, Điều 106 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ
sung năm 2017, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự
và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ
phí Tòa án.
Giao trả cho bị cáo số tiền 1.350.000 đồng (Một triệu, ba trăm năm mươi
nghìn đồng) theo Giấy nộp tiền ngày 02/7/2026 tại Kho bạc nhà nước tỉnh An
Giang.
Bị cáo pH chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày
tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong
thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pH thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 4, Điều 6, Điều 7 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - VKSND KV9; - Phòng KTNV - TAND tỉnh AG; - VKSND tỉnh AG; - Sở Tư pháp; - Phân trại tạm giam Chợ Mới; - Phòng THADS KV9; - Thi hành án DS tỉnh AG; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ; - Lưu Văn phòng (12). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đặng Thị Diệu Tiên |