vanban.org

Bản án 160/2025/HSPT — Hình sự

TAND TP Đà Nẵng Tuyên án 06/08/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/08/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Quang T; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 49/2025/HS-ST ngày 22 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam về hình phạt.

Xử phạt bị cáo Trần Quang T 09 (chín) tháng tù về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án. Bị cáo Trần Quang T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quang T - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (điều 341 Luậ…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Quang T; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 49/2025/HS-ST ngày 22 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam về hình phạt.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 341 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 160/2025/HS-PT
Ngày: 06-8-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Phú.

Các Thẩm phán:

Ông Trần Mạnh Dũng

Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thái Ngọc Nhật - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thanh Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng – Cơ sở 2, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 140/2025/TLPT-HS ngày 26 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo Trần Quang T; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 49/2025/HS-ST ngày 22 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Đà Nẵng).

- Bị cáo có kháng cáo: Trần Quang T, sinh ngày 24/01/1985; nơi cư trú: Số 25 đường Đỗ Đăng Tuyển, phường Bàn Thạch, thành phố Đà Nẵng (địa chỉ cũ: Số 25 đường Đỗ Đăng Tuyển, phường Tân Thạnh, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam); nghề nghiệp: xây dựng; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quang Y và bà Trần Thị K; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Tr và có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2021); tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Công ty trách nhiệm hữu hạn kiến trúc và xây dựng ABICO (sau đây viết tắt: Công ty ABICO) hoạt động theo giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mã số: 4000994856 do Phòng Đăng ký kinh doanh – Sở Kế hoạch Đầu tư tỉnh Quảng Nam cấp đăng ký lần đầu ngày 08 tháng 9 năm 2014; Người đại diện theo pháp luật của Công ty là Trần Quang T (Chức danh: Giám đốc). Ngành nghề kinh doanh: Xây dựng công trình dân dụng, hạ tầng kỹ thuật, giao thông (cầu đường bộ), nông nghiệp & phát triển nông thôn (thuỷ lợi). Thành viên góp vốn của công ty là Trần Quang Danh (sinh năm: 1989, trú tại: khối phố An Hà Nam, phường An Phú, TP. Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam).

Khi tham gia đấu thầu các công trình xây dựng, để đảm bảo năng lực nhân sự khi lập hồ sơ dự thầu, vào năm 2019 Trần Quang T thông qua mạng xã hội đã trao đổi với một đối tượng (không rõ lai lịch) đặt mua 15 chứng chỉ sơ cấp nghề với giá 300.000 đồng/01 chứng chỉ mà không thông qua đào tạo, thi sát hạch. Sau khi trao đổi, T gửi thông tin cá nhân và ảnh thẻ của công nhân làm tại Công ty ABICO cho người nhận làm chứng chỉ cho T; sau đó hai bên giao nhận chứng chỉ thông qua dịch vụ giao hàng nhanh, T thanh toán bằng tiền mặt cho người giao hàng với số tiền 4.500.000 đồng.

Trong 15 chứng chỉ trên có 04 chứng chỉ sơ cấp nghề có tên tổ chức cấp là Trường Trung cấp tổng hợp Hà Nội (địa chỉ: Tổ 9, phường Thạch Bàn, Quận Long Biên, TP. Hà Nội) với các nghề: thợ cốt thép, nề hoàn thiện, thợ cốp pha, thợ bê tông mang tên các cá nhân sau:

1. Châu Văn Hưng (sinh ngày 02/8/1973, trú: thôn An Thành 2, xã Bình An, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam).

2. Võ Thanh Phú (sinh ngày 24/7/1979, trú: thôn Phú Bình, xã Tam Phú, TP. Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam).

3. Nguyễn Tấn Lực (sinh ngày 03/8/1970, trú: thôn An Thành 2, xã Bình An, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam).

4. Thái Viết Lý (sinh ngày 07/7/1979, trú: Thôn 3, xã Tiên Phong, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam).

11 chứng chỉ sơ cấp nghề có tên tổ chức cấp là Trung tâm giáo dục nghề nghiệp CTA (địa chỉ: xã Lâm Thao, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh) với các nghề: thợ cốp pha, thợ cơ khí, thợ bê tông, nề hoàn thiện mang tên các cá nhân sau:

1. Nguyễn Hùng (sinh ngày 01/01/1965, trú: thôn An Thái, xã Bình An, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam).

2. Đoàn Thông (sinh ngày 01/01/1970, trú: thôn Phước Hà, xã Bình Phú, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam).

3. Trần Đình Hoàng (sinh ngày 01/5/1977, trú: thôn An Thành 2, xã Bình An, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam).

4. Nguyễn Đức Anh (sinh ngày 1984, trú: thôn Thạch Hưng, xã Tam Xuân II, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam).

5. Nguyễn Tấn Anh (sinh ngày 12/02/1980, trú: thôn An Thành 2, xã Bình An, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam).

6. Châu Thanh Hải (sinh ngày 01/01/1970, trú: thôn An Thành 3, xã Bình An, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam)

7. Trương Nhơn (sinh ngày 1967, trú: thôn Phước Hà, xã Bình Phú, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam).

8. Lâm Văn Hùng (sinh ngày 1966, trú: thôn An Thành 3, xã Bình An, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam).

9. Nguyễn Hoang (sinh ngày 06/8/1975, trú: thôn An Thành 2, xã Bình An, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam).

10. Nguyễn Thể (sinh ngày 12/9/1968, trú: thôn An Thành 2, xã Bình An, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam).

11. Lê Văn Hoàng (sinh ngày 29/8/1971, trú: thôn Phước Hà, xã Bình Phú, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam).

Năm 2020, Trần Quang T đã sử dụng 15 chứng chỉ sơ cấp nghề nói trên để Công ty ABICO tham gia đấu thầu các gói thầu do Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng Nam Việt Á là đơn vị được chủ đầu tư ký kết hợp đồng thuê tư vấn mời thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu. Quá trình lập hồ sơ dự thầu, Trần Quang T phân công Hoàng Ngọc Kơ Minh là nhân viên kỹ thuật, làm việc tại Công ty ABICO tập hợp tài liệu, lập hồ sơ dự thầu. Công ty ABICO đã tham gia và trúng 03 gói thầu gồm:

+ Gói thầu: Hệ thống mương thoát nước khu dân cư thôn Xuân Trung, xã Tam Quang (do UBND xã Tam Quang huyện Núi Thành làm chủ đầu tư), Trần Quang T đã sử dụng 15 chứng chỉ sơ cấp nghề nói trên để lập hồ sơ dự thầu. Kết quả trúng thầu, giá trúng thầu: 2.060.434.000 đồng.

+ Gói thầu: Hệ thống mương thoát nước khu dân cư Gò Dài, xã Tam Nghĩa (do UBND xã Tam Nghĩa, huyện Núi Thành làm chủ đầu tư), Trần Quang T đã sử dụng 15 chứng chỉ sơ cấp nghề nói trên để lập hồ sơ dự thầu. Kết quả trúng thầu, giá trúng thầu: 3.255.587.000 đồng.

+ Gói thầu: Bờ kè Sông Trầu thôn Tiên Xuân 1, xã Tam Anh Nam (do UBND xã Tam Anh Nam, huyện Núi Thành làm chủ đầu tư), Trần Quang T đã sử dụng 14 chứng chỉ sơ cấp nghề để lập hồ sơ dự thầu và trúng thầu, giá trúng thầu: 2.574.705.438 đồng. Hồ sơ dự thầu này T không sử dụng chứng chỉ sơ cấp nghề (bậc 5/7), số hiệu 010596, số vào sổ: 010542 của Nguyễn Hùng.

* Tại Kết luận giám định số 90/KL-KTHS ngày 25/01/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam, kết luận:

+ Hình dấu tròn màu đỏ có nội dung “TRƯỜNG TRUNG CẤP TỔNG HỢP HÀ NỘI*SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO*THÀNH PHỐ HÀ NỘI” trên các tài liệu cần giám định ký hiệu A21 và A22 so với hình dấu tròn màu đỏ có cùng nội dung trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M4 không phải do cùng một con dấu đóng ra.

+ Hình dấu tròn màu đỏ có nội dung “TRƯỜNG TRUNG CẤP TỔNG HỢP HÀ NỘI*SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO*THÀNH PHỐ HÀ NỘI” trên các tài liệu cần giám định ký hiệu A23 và A24 so với hình dấu tròn màu đỏ có cùng nội dung “TRƯỜNG TRUNG CẤP TỔNG HỢP HÀ NỘI*SỞ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI THÀNH PHỐ HÀ NỘI” trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M5 đến M7 không phải do cùng một con dấu đóng ra.

+ Từ chối giám định đối với yêu cầu: chữ ký đứng tên Lê Nghị trên các tài liệu cần giám định ký hiệu từ A21 đến A24 so với chữ ký đứng tên Lê Nghị trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M7 do chữ ký trên các tài liệu mẫu so sánh không phải là chữ ký trực tiếp.

* Tại Kết luận giám định số 1555/KL-KTHS ngày 25/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:

+ Hình dấu tròn đỏ có nội dung “Sở lao động thương binh và xã hội tỉnh Bắc Ninh – Trung tâm giáo dục nghề nghiệp CTA” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu từ A2 đến A12) so với hình dấu tròn đỏ có cùng nội dung lưu tại Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội (PC06) – Công an tỉnh Bắc Ninh (ký hiệu M) không phải do cùng một con dấu đóng ra.

Tiến hành điều tra, xác minh tại Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Bắc Ninh xác định: Từ năm 2015, Sở Lao động, Thương binh và xã hội tỉnh Bắc Ninh đã có văn bản chỉ đạo, hướng dẫn các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh chuyển đổi cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp và triển khai đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp. Tuy nhiên, đến nay Trung tâm giáo dục nghề nghiệp CTA chưa thực hiện việc chuyển đổi và chưa được Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Bắc Ninh cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp. Từ năm 2017 đến nay, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Bắc Ninh không nhận được thông tin báo cáo về tình hình tuyển sinh, đào tạo và cấp chứng chỉ sơ cấp của Trung tâm giáo dục nghề nghiệp CTA.

Trung tâm giáo dục nghề nghiệp CTA không còn hoạt động đào tạo nghề từ thời điểm UBND tỉnh Bắc Ninh ban hành Quyết định số 950/QĐ-UBND ngày 10/7/2017 về việc đổi tên Trung tâm dạy nghề và ứng dụng công nghệ CTA thành Trung tâm giáo dục nghề nghiệp CTA và không còn hoạt động tại địa chỉ xã Lâm Thao, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh. Kể từ thời điểm đổi tên thành Trung tâm giáo dục nghề nghiệp CTA, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Bắc Ninh không lưu trữ tài liệu nào của Trung tâm giáo dục nghề nghiệp CTA có chữ ký của ông Đỗ Văn Trọng và hình dấu của Trung tâm giáo dục nghề nghiệp CTA.

Đối với ông Đỗ Văn Trọng là Giám đốc Trung tâm giáo dục nghề nghiệp CTA: Cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam đã tiến hành làm việc, xác minh với vợ của ông Trọng là bà Vũ Thị Tuấn và Công an xã Lâm Thao, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh xác định: Hiện nay Trung tâm giáo dục nghề nghiệp CTA không có hoạt động trên địa bàn xã Lâm Thao và ông Đỗ Văn Trọng không có mặt tại địa phương, ở đâu, làm gì không xác định được.

- Xác minh tại Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an tỉnh Bắc Ninh, xác định: Trung tâm giáo dục nghề nghiệp CTA có đăng ký mẫu dấu tại Công an tỉnh Bắc Ninh.

Kết quả điều tra, xác minh đối với Trường Trung cấp tổng hợp Hà Nội, xác định: Trường Trung cấp tổng hợp Hà Nội được đổi tên từ Trường Trung học Dân lập Kinh tế

- Kỹ thuật tổng hợp, theo Quyết định số 1712/QĐ-UBND ngày 30 tháng 10 năm 2008 của UBND thành phố Hà Nội do ông Lê Nghị, sinh ngày 04/4/1948 làm Hiệu trưởng. Trường hoạt động dưới sự quản lý của Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Lao động Thương binh và Xã hội thành phố Hà Nội; Trường Trung cấp Tổng hợp Hà Nội không được Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Lao động thương binh và xã hội thành phố Hà Nội cấp phép đào tạo, cấp chứng chỉ sơ cấp nghề đối với các ngành: Cơ khí, Mộc, Điện, Vận hành máy xây dựng. Đến ngày 12/4/2017, Trường Trung cấp tổng hợp Hà Nội được chuyển giao chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước từ Sở Giáo dục và Đào tạo sang Sở Lao động Thương binh và xã hội TP. Hà Nội và được sử dụng con dấu mới (theo Quyết định số 2230/QĐ-UBND của UBND thành phố Hà Nội)

Với nội dung vụ án như trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 49/2025/HS-ST ngày 22/4/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Đà Nẵng) đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Trần Quang T phạm tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 341; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Trần Quang T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 25/4/2025, bị cáo Trần Quang T có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Quang T về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng pháp luật. Đồng thời, đã xem xét áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 và áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để làm căn cứ xử phạt bị cáo Trần Quang T mức án 09 tháng tù là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo có cung cấp chứng cứ mới: Cha của bị cáo tham gia chiến trường K (Camphuchia); bị cáo tích cực tham gia hoạt động công tác của xã; có giấy xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn; bản thân bị cáo bị thoái hóa cột sống, các chủ công trình có đơn xin giảm án cho bị cáo, tuy nhiên, hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, không nặng, không đủ điều kiện để được hưởng án treo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Quang T, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm.

Bị cáo Trần Quang T không tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Trần Quang T có đơn kháng cáo theo đúng quy định tại các Điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nên kháng cáo của bị cáo là hợp pháp.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Quang T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được Cơ quan điều tra chứng minh có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở kết luận: Trần Quang T là giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn kiến trúc và xây dựng ABICO, hoạt động trong lĩnh vực xây dựng. Năm 2019, Trần Quang T thông qua mạng xã hội đã đặt mua 15 chứng chỉ sơ cấp nghề; trong đó có 04 chứng chỉ sơ cấp nghề có tên tổ chức cấp là Trường Trung cấp tổng hợp Hà Nội; ngày cấp ghi trên các chứng chỉ là ngày 27/4/2017 và 11 chứng chỉ sơ cấp nghề có tên tổ chức cấp là Trung tâm giáo dục nghề nghiệp CTA; ngày cấp ghi trên các chứng chỉ là ngày 14/6/2019; với các nghề: thợ cốt thép, nề hoàn thiện, thợ cốp pha, thợ bê tông, thợ cơ khí, cho công nhân làm việc trong công ty của mình với giá 300.000 đồng/01 chứng chỉ mà không thông qua đào tạo, thi sát hạch; Trần Quang T đã sử dụng các chứng chỉ sơ cấp nghề giả này để đưa vào 03 hồ sơ dự thầu tham gia đấu thầu. Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2025/HS-ST ngày 16 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam đã kết án bị cáo Trần Quang T về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 341 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo Trần Quang T thì thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 và áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để làm căn cứ xử phạt bị cáo Trần Quang T 09 tháng tù, mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng là có cơ sở, đúng pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo có cung cấp chứng cứ mới: Cha của bị cáo tham gia chiến trường Camphuchia; bị cáo tích cực tham gia hoạt động công tác của xã; có giấy xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn; bản thân bị cáo bị thoái hóa cột sống, các chủ công trình có đơn xin giảm án cho bị cáo. Tuy nhiên, mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là không nặng, phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung; hành vi phạm tội của bị cáo không đủ điều kiện để được hưởng án treo. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt theo như đề nghị của Kiểm sát viên.

Về án phí: do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Trần Quang T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Quang T; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 49/2025/HS-ST ngày 22 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam về hình phạt.

2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 341; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Trần Quang T 09 (chín) tháng tù về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

3. Bị cáo Trần Quang T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 06/8/2025).

Cỡ chữ