- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hủy hoại tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 38, 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 160/2025/HS-ST Ngày: 19-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Phong.
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Bá Bằng
Ông Nguyễn Văn Soan
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Quỳnh Anh – Thư ký Tòa án nhân dân quận G,
Thành phố H
- Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân quận G, Thành phố H tham gia phiên
tòa: Ông Nguyễn Trường Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2025 tại Tòa án nhân dân quận G, Thành phố H xét
xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 175/2025/HSST ngày 23/04/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 265/2025/QĐXXST-HS ngày 27/5/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phan Đình Tấn P, Giới tính: Nam
Tên gọi khác: Không
Sinh ngày 09 tháng 02 năm 1991; Tại: Thành phố H
Nơi thường trú: Số 60/7 đường P, Phường 14, quận G, Thành phố H
Nơi ở hiện tại: Số 60/7 đường P, Phường 14, quận G, Thành phố H
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không
Học vấn: 07/12;
Nghề nghiệp: Tự do
Cha: Phan Văn Đ, Sinh năm: 1970
Mẹ: Nguyễn Mỹ D, Sinh năm: 1959
Gia đình có 02 anh em, bị can là con thứ nhất;
Bị can chưa có vợ con;
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: 11/12/2018 bị Toà án nhân dân quận G áp dụng biện pháp xử lý
hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Bị cáo tại ngoại (Có mặt).
Bị hại: Ông Nguyễn Hữu L, sinh năm 1994; địa chỉ: 49/26/21 Đường Số
51, Phường 14, quận G, Thành phố H (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 7 giờ 30 phút ngày 18/9/2024 ông Nguyễn Hữu L đến Công An
Phường 14, quận G trình báo phía trước nhà ông L có địa chỉ: 49/26/21 Đường số 51, Phương 14, quận G bị tạt sơn màu xám, qua sự tố cáo của ông L Công an xuống xem xét ghi nhận hiện trường như sau:
+ Cửa ra vào nhà là cửa sắt (sơn dầu), gắn kính, 04 cánh, kích thước
2,6x2,7m, bề mặt ngoài 02 cửa bên trái dính nhiều sơn màu xám kích thước dính sơn 1,3x2,2m, phần bề mặt ngoài 02 cửa bên phải bám dính sơn rải rác không rõ hình dạng.
+ Tại vị trí cầu dắt xe bằng sắt kích thước dính sơn 0,6x0,6cm đặt phía
trước nhà có bám dính nhiều sơn màu xám.
+ Tại vị trí bậc thềm trước nhà bề mặt lát đá hoa cương màu đen bám dính
nhiều sơn màu xám, kích thước dính sơn 1,1x0,6m. Chi phí sửa chửa thiệt hại là 433.333 đồng.
+ Tại vị trí trên bề mặt ngoài tường được sơn nước, hai bên trước cửa ra
vào bám dính rải rác sơn màu xám không rõ hình dạng, mỗi bên kích thước dính 0,3x2,7m.
Qua truy xét rà soát đối tượng nghi vấn. ngày 19/9/2024 Công An Phường
14, quận G mời ông Phan Đình Tấn P có địa chỉ: 49/26/21 Đường số 51, Phương 14, quận G lên làm việc.
Ngày 08/01/2025 làm việc tại Công an Phường 14, quận G thì Phan Đình
Tấn P trình bày và thừa nhận như sau:
Khoảng một tuần trước khi vụ việc tạt sơn, ông L có thuê bị cáo P sửa chữa
nhà chống dột cho ông Long, sau khi làm xong bị cáo P tính tiền công là 1.200.000 đồng bị ông L nói đắt, bị cáo P bực tức vì đã giúp hàng xóm còn bị nói đắt rẻ.
Do vậy, Khoảng 23 giờ 30 phút, ngày 17/9/2024 bị cáo P lên tầng 02 nhà
mình lấy lon sơn màu xám khi làm công trình còn dư đổ vào bịch nilông, sau đó bị cáo P ném bịch nilông có sơn màu xám qua nhà ông L (Nhà ông L với nhà bị cáo P cách nhau khoảng 10m).
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra, bị cáo P thừa nhận toàn bộ hành vi sử dụng
sơn màu xám cố ý làm hư hỏng tài sản như trên.
Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 257/KL-HĐĐGTS ngày 15/11/2024 của
Hội đồng định giá tài sản (chi phí sửa chữa) tại thời điểm định giá ngày 19/9/2024 là 2.785.0267 đồng.
Vật chứng vụ án: Không có.
Về trách nhiệm dân sự: Phan Đình Tấn P đã bồi thường khắc phục hậu quả
cho anh L. Ngày 17/12/2024, anh L đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho P và không yêu cầu gì khác.
Tại bản cáo trạng số 180/CT-VKS-GV ngày 14/04/2025 của Viện Kiểm sát
nhân dân quận G truy tố bị cáo Phan Đình Tấn P về tội “ Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát luận tội, đưa ra quan điểm xét xử và
đề nghị Hội đồng xét xử
- Xử phạt bị cáo Phan Đình Tấn P từ 6 (sáu) tháng đến 09 (chín). tháng tù
giam.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận G,
Tp. H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận G, Thành phố H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận G
công bố bản cáo trạng thì bị cáo Phan Đình Tấn P đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, phù
hợp với kết luận điều tra của cơ quan điều tra Công an quận G, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận G và với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng bị cáo Phan Đình Tấn P phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 178 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội.
Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật và Nhà nước bảo hộ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội. Tài sản bị cáo hủy hoại là cửa sắt, vách tường, nền nhà, tường nhà, bị cáo dùng sơn ném vào, tại thời điểm định giá ngày 19/9/2024 là 2.785.0267 đồng, nên Viện kiểm sát quận G truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự là có cơ sở. Do đó, việc xử lý bị cáo bằng biện pháp hình sự là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với bị cáo Phan Đình Tấn P phải chịu mức hình phạt tương xứng
với tội lỗi của bị cáo nhưng xét thấy bị cáo là lao động chính trong gia đình, bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng và bị hại có đơn xin bãi nại, không yêu cầu xử lý hình sự đối đối với bị cáo, Trong thời gian tại ngoại bị cáo không phạm tội mới, chấp hành nghiêm giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng, nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo P ra khỏi xã hội, cho bị cáo hưởng mức án có thời gian thử thách lâu dài và thể hiện sự nhân đạo của pháp luật Việt Nam đối với người phạm tội lần đầu biết ăn năn hối cải .
Về hình phạt bổ sung được qui định tại khoản 5 Điều 178 Bộ luật hình
sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xét tính chất của vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên miễn phạt.
Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên toà hôm nay, bị hại là ông Nguyễn Hữu L xin giảm nhẹ hình phạt
đối với bị cáo P và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều
38, 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
1- Tuyên bố bị cáo Phan Đình Tấn P phạm tội “Tội hủy hoại hoặc cố ý làm
hư hỏng tài sản”:
- Xử phạt bị cáo Phan Đình Tấn P 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án
treo, thời gian thử thách là 01(một) năm. Tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường 14 quận G, Thành phố H, giám sát
và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ
02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo
Trong trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực
hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
2- Về án phí hình sự sơ thẩm:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn đồng).
3- Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày
tính kể từ ngày tuyên án.
Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a, 7b, Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014
( Chủ tọa đã giải thích chế định án treo)
Nơi nhân:
| -TAND TP.H; THẨM - VKSND TP.H; -Viện kiểm sát quận G; -Công an TP.H; - Ủy ban nhân dân phường 14, quận G. -Chi cục thi hành án quận G; -Người tham gia tố tụng; -Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM TTHẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký) Lê Thành Phong |