vanban.org

Bản án 160/2025/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 19/12/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/12/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Vũ P, HUỲNH VĂN V; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 36/2025/HS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 8 - C.

Tuyên bố các bị cáo: TRẦN VỦ P, HUỲNH VĂN V phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt bị cáo TRẦN VỦ P01 (năm) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Vũ P - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Vũ P, HUỲNH VĂN V; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 36/2025/HS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 8 - C.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 160/2025/HS-PT
Ngày: 19 - 12 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa P tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hà

Các Thẩm phán:

Ông Phan Thanh Hải

Bà Châu Minh Nguyệt

- Thư ký P tòa: Bà Phan Thị Thuý An – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia P tòa:

Bà Phan Thanh Tình - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 181/2025/TLPT-HS ngày 10 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo Trần Vũ P và Huỳnh Văn Tình, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2025/HS-ST, ngày 18 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 8 - C, tỉnh Cà Mau.

- Bị cáo có kháng cáo:

1. TRẦN VỦ P, sinh ngày 19/4/1995, tại Bạc Liêu; Căn cước công dân số: 095095004583, cấp ngày 28/9/2021 tại Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ Công an.

Nơi cư trú: Ấp 21, xã Phong Tân, thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu (nay là Khóm 21, phường Láng Tròn, tỉnh Cà Mau); Nghề nghiệp: Làm vuông; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn Vủ (chết) và bà Trần Kim Ái, sinh năm 1977; Vợ: Thái Thị Mỹ Hiên, sinh năm 1995; con: 02 người, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị khởi tố ngày 14/5/2025 và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay (Có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo : Ông Hồ Minh Tấn va ông Ngô Đình Chiến – Luật sư của Văn phòng Luật sư Ngô Đình Chiến, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Cà Mau. (Có mặt).

2. HUỲNH VĂN V, sinh ngày 01/01/1986, tại Bạc Liêu; Căn cước công dân số: 095086001928, cấp ngày 28/01/2023 tại Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ Công an.

Nơi cư trú: Ấp 21, xã Phong Tân, thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu (nay là Khóm 21, phường Láng Tròn, tỉnh Cà Mau); Nghề nghiệp: buôn bán; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn Dử (chết) và bà Trần Thị Chol, sinh năm 1969; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị khởi tố ngày 06/6/2025 và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay (Có mặt).

Bị hại: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1959 (chết)

Địa chỉ: Ấp 16B, phường Láng Tròn, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị Cúc, sinh năm 1956; Địa chỉ: Ấp 16B, phường Láng Tròn, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại P tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do vuông tôm của ông Trần Văn Vũ thường xuyên bị đổ trộm nên TRẦN VỦ P(con ông Vũ) có rủ HUỲNH VĂN V, Trần Hải Đăng và Trần Văn Tình bắt người trộm tôm thì tất cả đều đồng ý. Đến khoảng 23 giờ 30 phút, ngày 10/9/2015, P và V phát hiện bị hại Nguyễn Văn C lội xuống vuông tôm của ông Vũ để đổ trộm tôm, P và V cùng bắt giữ ông C nhưng do ông C chống trả quyết liệt nên bị cáo V đứng phía sau dùng tay câu ôm ngang phần bụng ông C lại, P lấy cây cậm đuôi lú (loại cây gỗ tròn đường kính khoảng 2,5cm, dài khoảng 80cm) gần đó đánh từ trên xuống, từ ngoài vào trong khoảng 2 đến 3 cái thì ông C đưa hai tay lên để đỡ và bị thương tích. Sau đó, ông C không C chống cự nữa nên P và V kéo ông C từ dưới vuông lên bờ, nhưng ông Con tiếp tục chống cự không chịu lên bờ, P tiếp tục dùng cây đánh 02 đến 03 cái vào chân của ông C nhưng không gây thương tích. Sau đó P, V, Đăng và Tình đưa ông C về nhà ông Vũ tại ấp 21, xã Phong Tân, thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu. Sau đó trình báo sự việc đến Công an xã Phong Tân đến lập biên bản sự việc và tạm giữ tang vật có liên quan.

Tại bản Kết luận giám định thương tích số 165 ngày 22/10/2015 của Trung tâm pháp y tỉnh Bạc Liêu kết luận thương tích của ông Nguyễn Văn C như sau: Gãy 1/3 dưới xương trụ tay phải, can tốt, còn cố định băng nẹp vis. Tỷ lệ 10%; Gãy 1/3 dưới xương trụ tay trái, can xấu, còn cố định bằng nẹp vis, ảnh hưởng chức năng xấp ngửa cẳng tay. Tỷ lệ 21%; Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Văn C tại thời điểm giám định là 29%, do vật tày tác động từ trên xuống dưới.

Tại bản cáo trạng số: 07/CT-VKS-HS ngày 13 tháng 7 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Cà Mau truy tố các bị cáo TRẦN VỦ P; HUỲNH VĂN V về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2025/HS-ST, ngày 18 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8- Cà Mau quyết định:

1. Tuyên bố các bị cáo: TRẦN VỦ P, HUỲNH VĂN V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo TRẦN VỦ P02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt chấp hành án.

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo HUỲNH VĂN V 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt chấp hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 29 tháng 9 năm 2025, bị cáo Trần Vũ P, HUỲNH VĂN V có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Vũ P, HUỲNH VĂN V, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân Khu vực 8 - C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại P tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại P tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Vũ P, HUỲNH VĂN V thay đổi nội dung kháng cáo, xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo. Lý do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình.

Xét kháng cáo của các bị cáo Trần Vũ P và HUỲNH VĂN V, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bị cáo Trần Vũ P và HUỲNH VĂN V trong quá trình canh bắt trộm trong vuông tôm của nhà bị cáo P thì phát hiện ông Nguyễn Văn C có hành vi vào vuông trộm tôm nên P và V bắt giữ bị hại C, do bị hại C có hành vi chống đối nên bị cáo V ôm bị hại C và bị cáo P thì dùng cây đánh bị hại C dẫn đến bị hại C bị thương tích, tổn hại sức khoẻ 29%. Tại P toà, bị cáo P và bị cáo V thừa nhận bản án sơ thẩm xử bị cáo tội cố ý gây thương tích là không oan sai, các bị cáo chỉ xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Xét, việc bị cáo P và V bắt giữ và đánh bị hại Nguyễn Văn C gây thương tích bị xét xử về tội cố ý gây thương tích là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, xuất phát từ hành vi có lỗi của bị hại Nguyễn Văn C vào vuông tôm của nhà bị cáo P vào lúc đêm khuya mới dẫn đến việc bị cáo P và bị cáo V gây thương tích cho bị hại C, nếu bị hại C không chống cự, không trộm tôm thì không có sự việc các bị cáo P và bị cáo V vi phạm pháp luật, cây mà bị cáo P dùng để đánh bị hại C cũng không phải do bị cáo P chuẩn bị trước, do bị hại C chống cự nên sẵn có cây cặm đuôi lú bị cáo mới dùng cây đánh bị hại C để khống chế. Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo, khắc phục hậu quả, gia đình có công với cách mạng, bị hại xin giảm nhẹ cho các bị cáo.

Như phân tích trên, bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo P và V 02 năm tù là nặng nên cần chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Vũ P và HUỲNH VĂN V, áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho các bị cáo cải tạo giáo dục trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội. Không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận kháng cáo, như phân tích trên có cơ sở chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo.

Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo Trần Vũ P, bị cáo HUỲNH VĂN V không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Vũ P, HUỲNH VĂN V; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 36/2025/HS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 8 - C.

2. Tuyên bố các bị cáo: TRẦN VỦ P, HUỲNH VĂN V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 54, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo TRẦN VỦ P01 (năm) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt chấp hành án.

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 54, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo HUỲNH VĂN V 01 (năm) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt chấp hành án.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 01 cây vợt lưới, cán vợt bằng gỗ dài 21cm, miệng vợt có hình tròn bằng kim loại đường kính 31cm.

(Các vật chứng trên hiện Phòng thi hành án dân sự Khu vực 8 – Cà Mau đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/8/2025).

4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án.

4.1. Án phí sơ thẩm: Buộc mỗi bị cáo nộp số tiền 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4.2. Án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Trần Vũ P, HUỲNH VĂN V không phải nộp.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ