vanban.org

Bản án 160/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Thanh L xin ly hôn với ông Nguyễn Thanh H.

2/ Về con chung: Không có. 3/ Về tài sản chung: Không ai yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thanh L, sinh năm: 1965. Số Căn cước: 096165006175, cấp ngày 26/3/2025. Địa chỉ cư trú: Số 232/62, Hẻm H3, đường L,…"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Thanh L xin ly hôn với ông Nguyễn Thanh H.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 160/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 29 - 12- 2025
“V/v xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thùy Nhiêu

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Thanh Liêm

Bà Huỳnh Trúc Duyên

Thư ký phiên toà: Bà Tô Huyền Trang - Là Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau.

Ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1- Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 271/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2025 về việc xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2134/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thanh L, sinh năm: 1965. Số Căn cước: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 26/3/2025. Địa chỉ cư trú: Số 232/62, Hẻm H3, đường L, khóm 11, phường A, tỉnh Cà Mau. Có mặt.

Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm: 1962; Số CMND: xxxxxxxxx, cấp ngày 13/5/2020. Địa chỉ cư trú: Số 232/62, Hẻm H3, đường L, khóm 11, phường A, tỉnh Cà Mau. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bà Trần Thị Thanh L trình bày và xác định yêu cầu như sau:

Về hôn nhân: Bà với ông Nguyễn Thanh H kết hôn vào năm 2020 có đăng ký kết hôn tại UBND phường 1, thành phố Cà Mau ngày 29/7/2020 (theo giấy chứng nhận kết hôn số 49/2020), hôn nhân tự nguyện. Quá trình chung sống giữa vợ chồng ông H không lo làm ăn để phụ tiếp kinh tế gia đình với bà, từ đó giữa vợ chồng thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống. Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung vợ chồng không còn hạnh phúc nên yêu cầu Tòa án cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Thanh H.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Thanh H, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và triệu tập ông H đến Tòa án để tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử nhưng ông H vắng mặt không có lý do và không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Thanh H đến để tham gia các phiên xét xử nhưng ông vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông H theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Bà L và ông H xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 1, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (theo giấy chứng nhận kết hôn số 49/2020) đúng quy định của pháp luật nên là hôn nhân hợp pháp. Bà L yêu cầu được ly hôn nên quan hệ pháp luật mà các bên tranh chấp được xác định là tranh chấp ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Quá trình chung sống, bà L xác định giữa vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc ông H không lo làm ăn để phụ giúp kinh tế gia đình với bà. Từ đó dẫn đến vợ chồng thường xuyên cự cãi. Nay bà L xác định không còn tình cảm, không thể tiếp tục chung sống với ông H được nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông H. Để tạo điều kiện cho bà L và ông H hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng nên Tòa án triệu tập các đương sự đến Tòa án để tiến hành hòa giải đoàn tụ nhưng ông H vắng mặt không rõ lý do, không gửi văn bản ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của bà L, không đến tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án, việc này cho thấy ông H cũng không có tha thiết, mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Quá trình giải quyết và tại phiên tòa, bà L kiên quyết xin ly hôn với ông H. Xét thấy, hôn nhân của bà L và ông H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được và không thể hàn gắn nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L về việc xin ly hôn với ông H.

Về con chung: Bà L khai không có.

Về tài sản chung: Bà L khai không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Bà L xác định không có. Ông H không tham gia các phiên họp hòa giải và phiên tòa xét xử, không gửi văn bản thể hiện ý kiến của mình và gửi các tài liệu kèm theo chứng minh về vấn đề này nên chấp nhận ý kiến của bà L.

Về án phí: Bà L là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn nộp tạm ứng án phí và án phí nên không đặt ra việc hoàn lại.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, 35, 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Căn cứ Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/ Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Thanh L xin ly hôn với ông Nguyễn Thanh H.

2/ Về con chung: Không có.

3/ Về tài sản chung: Không ai yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

4/ Về nợ chung: Bà L khai không có nên không xem xét giải quyết.

5/ Về án phí: Bà Trần Thị Thanh L được miễn nộp tạm ứng án phí và án phí nên không đặt ra việc hoàn lại.

Bà L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ