vanban.org

Bản án 160/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị D, sinh năm 1995 -Chủ hộ kinh doanh Đại lý Hưng LP đối với ông Huỳnh Minh Thanh về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”.

Buộc ông Huỳnh Minh T phải có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Đặng Thị D, sinh năm 1995 - Chủ hộ kinh doanh Đại lý Hưng LP số tiền mua thức ăn, hóa chất và thuốc nuôi tôm còn thiếu là 299.127.000 đồng (Hai trăm chín mươi chín triệu một trăm hai mươi bảy nghìn đồng), trong đó, tiền vốn là 223.595.000 đồng, … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản — án dân sự — "Vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản giữa Bà Đặng Thị D, sinh năm 1995 - Chủ hộ kinh doanh Đại lý Hưng LP với ông Huỳnh Minh T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị D, sinh năm 1995 -Chủ hộ kinh doanh Đại lý Hưng LP đối với ông Huỳnh Minh Thanh về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8-VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 160/2025/DS-ST
Ngày: 25/9/2025
V/v “Tranh chấp hợp đồng
mua bán tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8-VĨNH LONG

- Với T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Phi.

Các Hội thẩm nhân dân.

1. Ông Nguyễn Tường Bích.

2. Bà Huỳnh Thị Bích Vân.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Đặng Hoàng Long - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8-Vĩnh Long.

Trong ngày 25 tháng 9 năm 2025, tại Hội trường xét xử của Tòa án nhân dân khu vực 8-Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án dân sự thụ lý số: 65/2025/TLST-DS ngày 13 tháng 8 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 188/2025/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 9 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 128/2025/QĐST-DS ngày 22 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Đặng Thị D, sinh năm 1995 - Chủ hộ kinh doanh Đại lý Hưng LP.

Địa chỉ: Tổ 6, ấp 4 Cây Trôm, xã BĐ, tỉnh Vĩnh Long.

Bà Đặng Thị D, sinh năm 1995 - Chủ hộ kinh doanh Đại lý Hưng LP ủy

quyền cho bà Phan Kỳ D, sinh năm 2001, địa chỉ: Số 74/2, ấp An Hội B, xã An Qui, tỉnh Vĩnh Long.

Bà Phan Kỳ D có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt ngày 25/9/2025.

* Bị đơn: Huỳnh Minh T,sinh năm 1985.

Địa chỉ: Ấp 4 Cây Trôm, xã BĐ, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 08/8/2025, những lời khai tiếp theo trong quá trình tố tụng, người được nguyên đơn Đặng Thị D, sinh năm 1995 - Chủ hộ kinh doanh Đại lý Hưng LP ủy quyền, bà Phan Kỳ D trình bày:

Vào ngày 18/5/2021, giữa bà Đặng Thị D là chủ hộ kinh doanh Hưng LP có ký kết hợp đồng mua bán tài sản với bên bị đơn Huỳnh Minh T, cụ thể bên nguyên đơn bán thức ăn nuôi tôm, hóa chất và thuốc nuôi tôm cho bị đơn Huỳnh Minh T. Hai bên thỏa thuận, bên nguyên đơn giao cho bị đơn Huỳnh Minh T thức ăn nuôi tôm, hóa chất và thuốc nuôi tôm, sau mỗi lần nhận hàng, bên bị đơn ký tên xác nhận việc nhận hàng, thời hạn thanh toán là cuối mỗi vụ thu tôm (Sau khi thu hoạch tôm). Tuy nhiên, bị đơn Huỳnh Minh T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận. Đến ngày 04/5/2022, hai bên đã ngừng giao dịch, lý do bị đơn không thực hiện việc trả nợ cho nguyên đơn. Sau đó, bên nguyên đơn nhiều lần liên hệ với bị đơn Huỳnh Minh T để yêu cầu thanh toán số tiền còn nợ nhưng bị đơn né tránh, không thực hiện. Đến ngày 04/5/2022, bị đơn còn thiếu lại nguyên đơn số tiền là 223.595.000 đồng (Hai trăm hai mươi ba triệu năm trăm chín mươi lăm nghìn đồng).

Trong quá trình tố tụng, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bà Phan Kỳ D yêu cầu xét xử buộc ông Huỳnh Minh T phải có nghĩa vụ hoàn trả cho nguyên đơn số tiền mua thức ăn nuôi tôm, hóa chất và thuốc nuôi tôm còn thiếu là 223.595.000 đồng (Hai trăm hai mươi ba triệu năm trăm chín mươi lăm nghìn đồng). Đồng thời, yêu cầu tính tiền lãi từ ngày 04/5/2022 đến ngày 25/9/2025, tổng thời gian tính lãi là 40 tháng 21 ngày với lãi suất 10%/năm tương đương 0.83%/tháng= 223.595.000 x 0.83% x 40 tháng 21 ngày = 75.532.000 đồng (Bảy mươi lăm triệu năm trăm ba mươi hai nghìn đồng).

Vậy, tổng số tiền vốn gốc và tiền lãi mà ông Huỳnh Minh T phải thanh toán cho bà Đặng Thị D - chủ hộ kinh doanh đại lý Hưng LP là 299.127.000 đồng (Hai trăm chín mươi chín triệu một trăm hai mươi bảy nghìn đồng).

(Tài liệu, chứng cứ bên nguyên đơn giao nộp là hợp đồng mua bán ngày 11/5/2022, bảng đối chiếu xác nhận công nợ).

Trong suốt quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng bị đơn Huỳnh Minh T từ chối tham gia tố tụng, bất hợp tác với Tòa án, đồng thời cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ và ý kiến, lời khai gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bà Phan Kỳ D có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; Bị đơn Huỳnh Minh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, do đó xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Trong năm 2021, giữa bà Đặng Thị D là chủ hộ kinh doanh Hưng LP với bị đơn Huỳnh Minh T ký kết hợp đồng mua bán tài sản, cụ thể bên nguyên đơn bán thức ăn nuôi tôm, hóa chất và thuốc nuôi tôm cho bị đơn Huỳnh Minh T, đồng thời hai bên thỏa thuận, bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ sau khi thu hoạch tôm xong nhưng bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận.

Hội đồng xét xử xét thấy: Bên bị đơn Huỳnh Minh T đã thực hiện xong quyền nhận tài sản thức ăn nuôi tôm, hóa chất và thuốc nuôi tôm nhưng đến khi thu hoạch tôm, bên bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận là vi phạm Điều 430, 440 Bộ luật Dân sự năm 2015. Trong quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng đối với bị đơn Huỳnh Minh T nhưng bị đơn từ chối tham gia tố tụng, không hợp tác với tòa án trong quá trình giải quyết vụ việc. Bên bị đơn Huỳnh Minh T ký tên vào hợp đồng mua bán ngày 11/5/2022, bảng đối chiếu xác nhận công nợ, đồng thời cũng không cung cấp lời khai, tài liệu, chứng cứ chứng minh đã thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ đối với nguyên đơn. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Thị D là chủ hộ kinh doanh Hưng LP là có cơ sở nên được chấp nhận.

Xét yêu cầu tính tiền lãi của bên nguyên đơn.

Hội đồng xét xử xét thấy: Do đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ trả nợ, bên bị đơn Huỳnh Minh T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, do đó nguyên đơn yêu cầu tính tiền lãi với mức lãi suất là 0,83%/tháng, thời gian tính lãi từ ngày 04/5/2022 đến ngày 25/9/2025 tổng là 40 tháng 21 ngày với lãi suất 10%/năm tương đương 0.83%/tháng là có cơ sở nên được chấp nhận.

Số tiền lãi được tính như sau: 223.595.000 đồng x 0.83% x 40 tháng 21 ngày = 75.532.000 đồng (Bảy mươi lăm triệu năm trăm ba mươi hai nghìn đồng).

Vậy, tổng số tiền vốn gốc và tiền lãi mà ông Huỳnh Minh T phải thanh toán cho bà Đặng Thị D - chủ hộ kinh doanh đại lý Hưng LP là 299.127.000 đồng (Hai trăm chín mươi chín triệu một trăm hai mươi bảy nghìn đồng).

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn Huỳnh Minh T phải có nghĩa vụ chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 280, 357, 430, 434, 440, 357; Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Các điều 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 12, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị D, sinh năm 1995 -Chủ hộ kinh doanh Đại lý Hưng LP đối với ông Huỳnh Minh Thanh về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”.

Buộc ông Huỳnh Minh T phải có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Đặng Thị D, sinh năm 1995 - Chủ hộ kinh doanh Đại lý Hưng LP số tiền mua thức ăn, hóa chất và thuốc nuôi tôm còn thiếu là 299.127.000 đồng (Hai trăm chín mươi chín triệu một trăm hai mươi bảy nghìn đồng), trong đó, tiền vốn là 223.595.000 đồng, tiền lãi là 75.532.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

Ông Huỳnh Minh T phải có nghĩa vụ chịu án phí với số tiền là 14.956.000 đồng

(Mười bốn triệu chín trăm năm mươi sáu nghìn đồng).

Hoàn trả lại cho bà Đặng Thị D, sinh năm 1995 - Chủ hộ kinh doanh Đại lý Hưng LP số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.229.175 đồng (Bảy triệu hai trăm hai mươi chín nghìn một trăm bảy mươi lăm đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001558 ngày 06 tháng 8 năm 2025 của Thi hành án dân sự khu vực 8-Vĩnh Long.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 7, điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn bà Đặng Thị D, sinh năm 1995 - Chủ hộ kinh doanh Đại lý Hưng LP, bị đơn Huỳnh Minh T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./.

Cỡ chữ