vanban.org

Bản án 160/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 25/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Căn cứ chính? Điều 299 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự
`
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẨM PHẢ
TỈNH QUẢNG NINH
────────

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 160/2024/HS – ST
Ngày 25 – 12 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Loan

Các hội thẩm nhân dân: 1- Ông Nguyễn Thái Duy

2- Bà Đinh Thị Khang

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Huệ – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Triều- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2024, tại Tòa án nhân thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 148/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 150/2024/QĐXXST - HS ngày 12 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Đức C (tên gọi khác: không); sinh ngày 02/6/1983, tại thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: tổ C, khu D, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Đức H (đã chết) và con bà Hà Thị V (đã chết); chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 06/11/2000, đi giáo dưỡng tại trường G theo quyết định số 2091/QĐ-UB của UBND tỉnh Q, chấp hành xong ngày 07/9/2002. Ngày 17/3/2014 bị TAND tỉnh Quảng Ninh xử phạt 45 tháng tù về các tội: “Bắt giữ người trái pháp luật” và “Cố ý gây thương tích”, ngày 18/7/2017 chấp hành xong bản án; bị bắt ngày 11/8/2024, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng: anh Trịnh Ngọc T, sinh năm 1989 (nơi thường trú: tổ B, khu D, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh), vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Cảnh sử dụng ma túy đá từ năm 2010, khoảng 19 giờ ngày 10/8/2024, C đã liên lạc qua ứng dụng Zalo với người đàn ông tên H1 (không rõ lai lịch) hỏi mua 300.000 đồng ma tuý, rồi C ra đầu ngõ cách nhà C 100m đặt 300.000 đồng giấu ở lỗ viên gạch, sau đó H1 đến lấy tiền và đặt ma túy lại rồi cho gọi C, C ra lấy mang về nhà riêng và cho ma tuý vào bộ dụng cụ sử dụng, châm lửa để hút khói qua đường hô hấp vào cơ thể. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 11/8/2024, Trịnh Ngọc T (sinh năm 1989, trú tại tổ B, khu D, phường C, thành phố C) là bạn bè với C, đến nhà C chơi. Sau khi nấu mì ăn với nhau xong C lấy bộ đồ sử dụng ma tuý đá (bên trong có ma tuý đá còn trong nỏ từ tối hôm qua) tự sử dụng và hỏi T “em hút không”? T đồng ý, thì C châm lửa vào nỏ tạo khói, đưa cho T sử dụng hết ma túy còn lại. Sau đó T ở lại ngủ, còn C đi làm, đến khoảng 12 giờ thì về. Khoảng 16 giờ cùng ngày Công an thành phố C kiểm tra hành chính tại nhà C thuộc tổ C, khu D, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, phát hiện và thu giữ dưới nền nhà cạnh đệm ở giữa phòng ngủ 01 bộ đồ sử dụng ma tuý đá gồm: một đoạn ống hút nhựa và 01 nỏ thuỷ tinh được gắn vào nắp chai nhựa màu trắng, 01 đoạn ống hút nhựa màu hồng có 01 đầu hàn kín, 01 bật lửa gas màu trắng có ống kim loại, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh lắp sim số 0362.843.663 của C (C dùng để liên lạc mua ma tuý).

T không đóng góp gì, bộ đồ sử dụng ma túy là của C. Sau khi C đi làm về không sử dụng thêm ma túy và số tiền mua ma túy do Cảnh lao động mà có.

Theo Kết luận giám định số 1275/KL-KTHS ngày 16/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q: tìm thấy chất ma tuý loại Methamphetamne trong 01 ống thuỷ tinh bầu tròn bị nứt vỡ gửi giám định, khối lượng dạng vết, không xác định được. Không tìm thấy chất ma tuý trong đoạn ống hút nhựa màu hồng.

Theo Kết luận giám định số 1276/KL-KTHS ngày 16/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q: giám định mẫu nước tiểu thu của Bùi Đức C, Trịnh Ngọc T phát hiện có ma túy Methamphetamine.

Quá trình điều tra, Trịnh Ngọc T có lời khai phù hợp với nội dung vụ án nêu trên và chứng kiến Công an đã thu giữ và niêm phong vật chứng liên quan đến hành vi vi phạm của C và T theo quy định của pháp luật vào chiều ngày 11/8/2024.

*Bản Cáo trạng số 3129/CT-VKSCP ngày 25/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố Bùi Đức C về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ: khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 47-Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 - Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Xử phạt Bùi Đức C từ 27 (hai mươi bảy) tháng tù đến 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 11/8/2024.

Tịch thu tiêu hủy 01 bộ đồ sử dụng ma tuý đá gồm: một đoạn ống hút nhựa, 01 nỏ thuỷ tinh được gắn vào nắp chai nhựa màu trắng, 01 đoạn ống hút nhựa màu hồng có 01 đầu hàn kín, 01 bật lửa gas màu trắng có ống kim loại và một sim điện thoại. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước một điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh.

*Bị cáo không có ý kiến gì về Kết luận giám định số 1275/KL-KTHS ngày 16/8/2024 và Kết luận giám định số 1276/KL-KTHS ngày 16/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q, Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh và bản luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện. Do đó, các hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp: Biên bản bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, Biên bản thu giữ vật chứng, biên bản kiểm tra và thu giữ đồ vật, biên bản niêm phong đồ vật bị tạm giữ, biên bản làm việc, Kết luận giám định số 1275/KL-KTHS ngày 16/8/2024 và Kết luận giám định số 1276/KL-KTHS ngày 16/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q, phù hợp với lời khai của người làm chứng Trịnh Ngọc T cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận: khoảng 07 giờ 30 phút ngày 11/8/2024, tại nhà của Bùi Đức C thuộc tổ C khu D, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, Bùi Đức C có hành vi chuẩn bị ma túy, bộ đồ sử dụng ma tuý đá tổ chức cho Trịnh Ngọc T sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine, thì bị Công an thành phố C phát hiện và thu giữ vật chứng.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự, như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 255 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ: hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước. Bị cáo là người đã trưởng thành biết rõ tác hại của ma túy và pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi liên quan đến ma túy. Nhân thân bị cáo đã một lần bị TAND tỉnh Quảng Ninh xử phạt 45 tháng tù về các tội: “Bắt giữ người trái pháp luật” và “Cố ý gây thương tích” và đã từng đi giáo dưỡng tại trường G theo quyết định số 2091/QĐ-UB của Ủy ban nhân dân tỉnh Q, nhưng với lối sống buông thả bị cáo đã thực hiện hành vi tổ chức cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy, thể hiện thái độ coi thường pháp luật, do đó phải xử phạt bị cáo thật nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng: không có.

Tình tiết giảm nhẹ: tuy nhiên cũng xét bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để bị cáo yên tâm cải tạo thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, là đối tượng nghiện ma tuý, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 - Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 - Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 bộ đồ sử dụng ma tuý đá gồm: một đoạn ống hút nhựa, 01 nỏ thuỷ tinh được gắn vào nắp chai nhựa màu trắng, 01 đoạn ống hút nhựa màu hồng có 01 đầu hàn kín, được niêm phong trong phong bì niêm phong vật chứng thu giữ gửi lại sau giám định số 1275/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh Q, 01 bật lửa gas màu trắng có ống kim loại và một sim điện thoại – vì đây là công cụ, phương tiện phạm tội.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước một điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh vì bị cáo dùng điện thoại này để liên lạc mua ma tuý.

Bị cáo phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và 333 – Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Đối với người đàn ông tên H1 có số điện thoại 0972.189.231, theo C khai đã nhiều lần bán trái phép chất ma túy cho C, do không có thông tin về lai lịch, địa chỉ nên không có cơ sở làm rõ, Cơ quan Công an tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau - do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 47 - Bộ luật Hình sự. Điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 - Bộ luật Tố tụng Hình sự: Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Tuyên bố: bị cáo Bùi Đức C phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: bị cáo Bùi Đức C 30 (ba mươi) tháng tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 11/8/2024.

Về vật chứng: tịch thu tiêu hủy 01 bộ đồ sử dụng ma tuý đá gồm một đoạn ống hút nhựa, 01 nỏ thuỷ tinh được gắn vào nắp chai nhựa màu trắng, 01 đoạn ống hút nhựa màu hồng có 01 đầu hàn kín (được đựng trong phong bì niêm phong vật chứng thu giữ gửi lại sau giám định số 1275/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh Q), 01 bật lửa gas màu trắng có ống kim loại và một sim điện thoại.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước một điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh.

(Tình trạng như Biên bản giao nhận vật chứng số 29/BB-THA ngày 26/11/2024 tại chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh).

Về án phí: buộc bị cáo Bùi Đức C phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./. Nơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -TAND tỉnh Quảng Ninh;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Quảng Ninh; -VKSND thành phố Cẩm Phả; -Cơ quan CSĐT Công an thành phố Cẩm Phả; -Cơ quan THAHS công an thành phố Cẩm Phả; -Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả; -Nhà tạm giữ Công an TP Cẩm Phả, tỉnh Quảng

Nguyễn Thị Loan Ninh; -Bị cáo; -Lưu hồ sơ, văn phòng; THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị L

Cỡ chữ